Tướng mệnh khảo luận

Vũ Tài Lục



Dẫn

Thế gian việc như ý thì ít, việc bất như ý thì nhiều, người đắc chí chẳng có bao nhiêu mà người bất đắc chí thì hằng hà sa số.

Ngàn xưa như thế, ngày nay cũng vậy.

Bất luận là phương Đông hay phương Tây.

Tại sao?

Đó là một câu hỏi gắn liền với đời sống nhân loại ngay tu khi loài người nhận thấy sự thọ yểu của mỗi sinh mệnh. Nó lại càng gây thắc mắc hơn khi con người sống tụ thành xã hội và nhận thấy lẽ cùng thông trong đời sống.

Phải chăng cùng thông thọ yểu là do sự an bài của đấng tối linh, trời phật, thượng đế như các tín ngưỡng tôn giáo lập luận.

Hoặc ngược hẳn lại theo triết lý nhân văn (humanisme), khoa học, phương pháp học (Descartes), ý trí quyền lực (volontộ de puissance )- Nietszche và Mác xít / tất cả là do con người định.

Vũ trụ xung quanh ta không chống lại ta mà cũng không ban ân huệ cho ta. Nó quay cuồng, đảo lộn, không hề có mưu định gì cả. trong quay cuồng đảo lộn, chính con người tự điều khiển, tự cai quản, vượt mọi trở ngại để chiến thắng.

Alain gọi là ( Ulysse nageant ) ( Ulysse, một nhân vật tượng chưng cho sự chiến đấu của con người trong sử ca của Homer, tác giả cổ xưa thời kỳ văn minh hy lạp. Sức mạnh thiên nhiên biển cả sóng lớn đã không ngăn cản được Ulysse đến chỗ ông định chốn).

Đọc bộ (Comédie humaine ) của văn hào Honorộ de Balzac, ta thấy rất nhiều nhân vật tương tự: Vautrin tên đầu trộm đuôi cướp sau trở thành tổng giám đốc công an, Rastignac, tên điếm đàng làm thủ tướng Pháp, trong khi những người như Louis lambert, Rabourdin tài giỏi, đức độ lại ngậm đắng nuốt cay thất bại ê trề. Không phải là Balzac đã tưởng tượng mà ông đã kể lại toàn chuyện thực của Paris thời ấy, thời cực thịnh cho chủ nghĩa hãnh tiến ăn may. Có biết bao nhiêu Ulysse chiến đấu nhưng không chống lại bọn /arriviste/ nghĩa là bọn có thời vận, tốt số, may hơn khôn.

Lénine tếng nói : Tuyệt vọng đưa dẫn người ta đến tín ngưỡng. (Perte de lespérance conduit à la croyance ). Nếu ông nghĩ đến viên đạn của kẻ ám sát ông chỉ đi lệch một chút thôi, không chúng vai mà chúng đầu ông, chắc ông sẽ giật mình với sự kỳ lạ của số mệnh.

Hitler tuyệt đối tin vào ý trí quyền lực. Các sử gia đã đưa nhiều bằng cớ cho thấy nhà lãnh tụ quốc xã luôn luôn lo lắng tới số mệnh.

Tục ngữ Trung Quốc có câu: Vị sinh nhân, tiên tạo mệnh.

Số mệnh được tạo thành lúc con người chưa chui ra khỏi bụng mẹ.

Tìm hiểu số mệnh là mục tiêu của khoa tướng mệnh để giải thích những điều:

Tảo mệnh Cam La vãn Thái Công

Thạch Sùng phú quý Phạm Đan cùng

Bành Tổ thọ trường, Nhan Tử đoản.

Tại sao cam la 12 tuổi đăng đàn bái tướng, còn ông Lã Vọng 90 tuổi mới gặp Chu Văn Vương?

Tại sao Thạch Sùng, châu báu đầy nhà, còn Phạm Đan ăn chạy từng bữa?

Tại sao ông Bành Tổ sống lâu, còn thầy Nhan Hồi chết sớm?

Tại Trời cả? Quyền phán xét dành cho Thượng đế?

Khoa tướng mệnh phủ nhận lý luận tại Trời theo cái nghĩa cho hay muôn sự tại Trời hoặc hoá công sao khéo trêu ngươi, ý chỉ vào một đấng tối linh an bài, con người vô năng không thể biết và cũng chẳng làm gì được đối với sự an bài đó.

Thu vào hai chữ / tại Trời / thôi thì vẽ vời bầy đặt tướng số là việc làm thêm nhiễu sự.

Thiên mệnh theo khoa tướng mệnh không chấp nhận Trời như một đấng tối linh mà Trời đây là sự kết hợp của ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ tức 5 chất tố cấu tạo thành vũ trụ và âm dương, tức 2 khí chất làm chuyển động vũ trụ.

Bởi vậy, để trả lời tại sao:

Tảo vận Cam La vẫn Thái Công

..........................................

Khoa tướng mệnh đã nói kết gọn vào câu:

Lục nhân đô tại ngũ hành trung

( 6 người ấy đều ở trong sự vận chuyển của ngũ hành)

Giầu sang, phú quý, bần tiện, cùng thông, thọ yểu đều do mệnh vận và tướng cách mà biết. Tính mệnh vận đặt trên nguyên tắc toán số, xem tướng cách đặt trên nguyên tắc cơ cấu kiến trúc và mĩ học, tuyệt đối không là dị đoan mê tín. Nó chống lại quan niệm mê muội thần quyền và làm giàu thêm cho khoa học nhân văn.

Nhà xã hội học không thể dùng bất cứ nguyên tắc nào của khoa này để giải nghĩa nổi tại sao Vương Hiển Văn, bạn rất thân của Vua Đường Thái Tôn từ lúc vua Đường Thái Tôn chưa chiếm được thiên hạ mà Văn laị chết trong cảnh nghèo khổ? Lúc Đường Thái Tôn lên làm vua cho người đến đón Vương Hiển Văn về triều cùng cai trị muôn dân thì ngay đêm hôm ấy Văn bị bạo bệnh chết. Một nhà tướng mệnh học lúc bấy giờ là Lý Thuần Phong đã xem tướng cho Vương Hiển Văn mà nói trước cả chục năm rằng:

- Tướng cách ông tai ám vô sắc, mi tán vô thái, mắt tán vô thần, con ngươi đen vô quang, nhất định không thể cao sang được.

Tại Trung Quốc vào những năm đầu cách mạng Tân Hợi, ai cũng đều biết cái tên Trương Tôn Xương xuất thân làm bồi bàn, văn bập bẹ đôi ba chữ, võ chẳng biết miếng nào, binh thư đồ trận lại càng mù tịt, thế mà ông ta đã một thời kỳ làm mưa làm gió trên chính trường miền Bắc. Khi ông làm Tổng Đốc tỉnh Sơn Đông, gặp kỳ hạn hán, dân chúng theo tục lệ có mời quan Tổng Đốc đến Long Vương Miếu lập đàn cầu mưa. Trước bàn thờ, sớ ông không biết đọc, khấn ông không biết khấn. Bực mình Trương Tôn Xương lấy tay chỉ mặt tượng thần mà nói : "Đ.M.... không mưa làm bách tính khổ... mày còn để nắng mãi, tao sẽ đập tan miếu này cho coi".

Các kỳ lão trong tỉnh ai nấy đều toát mồ hôi bởi câu chửi của quan Tổng Đốc, nhưng không dám hé răng. Qua 3 ngày trời vẫn không mưa. Tổng Đốc Trương Tôn Xương liền hạ lệnh cho tiểu đoàn pháo binh đem 10 khẩu đại bác xếp hành trước núi Thiên Phật bắn lên trời. Quả nhiên hôm sau trời mưa như trút nước.

Tại sao người như thế mà ở ngôi nhất phẩm triều đình?

Chỉ có thể giải đáp: " tại mệnh tốt "̉.

Trương Tôn Xương sinh năm Nhâm Ngọ, tháng Nhâm Dần, ngày Nhâm Dần, giờ Nhâm Dần. Bốn chữ Nhâm sách gọi bằng "Thiên nguyên nhất khí hành chi Dần Ngọ hợp thành hoả cục. Nhâm thuộc Thuỷ chúng vào cách Thuỷ Hoả ký tế "̉.

Thời kỳ Xương làm bồi bàn, thầy số đoán là đại quí mệnh. Xương còn vái thầy số xin đừng riễu cợt, cái thân bồi bàn làm gì đại quí đại phú. Đến lúc Trương Tôn Xương đắc ý, ông giàu đến nỗi tiền của có bao nhiêu không biết, quyền thế đến nỗi quân lính có bao nhiêu không biết, chỗ nào cũng lấy vợ đến nỗi có bao nhiêu vợ không biết. Các thầy số đã phải lấy trường hợp họ Trương làm điển hình để đặt thành cách gọi là cách " Tam bất tri ".

Trong thực tế, cuộc đời ta còn gặp biết bao nhiêu truyện lạ khác, nếu không đem khoa tướng mệnh học giải thích thì ta không còn cách gì khác để hiểu nổi những hiện tượng đó. Nào người giầu nhưng vất vả, người nghèo vẫn phong lưu, trước sang, sau hèn, tiền bần, hậu phú......

Quỉ Cốc Tử đặt ra hàng ngàn cách khác nhau, mỗi cách để chỉ một hiện tượng của đời sống con người, từng trường hợp khác nhau, từng người khác nhau, tỉ dụ:

a, Cách " Y cẩn kỵ ngưu " (mặc áo gấm cưỡi trâu) chỉ một số mệnh giầu sang phú quí, kiện cáo mượn oai hùm, cái gì cũng là giả. áo gấm phải cưỡi ngựa mới đủ bộ, sao lại cưỡi trâu.

b, Cách " Hàn Thuyên tại liễu " (con ve sầu trời rét đậu trên cành liễu) chỉ một số phận cùng khốn không nơi nương tựa. Ve sầu lúc trời rét đã là sắp tàn kiếp mà còn đậu trên cây liễu thì kiếm đâu cho ra chỗ ẩn nấp, tránh mưa, tránh gió.

c, Cách " Vân đầu vọng nguyệt " (đứng dưới mây chờ mặt trăng), ý chỉ một vận hội đen tối trước mặt, nhưng tương lai vẫn nhiều hy vọng.

Thiên hình vạn trạng kiếp sống đều hiện lên bằng hình ảnh rõ rệt tượng trưng cho tung tướng cách hay số cách.

Không có cái học nào đi sâu vào cõi nhân sinh như tướng mệnh học.

Nghiên cứu tướng mệnh học, chi mệnh không có nghĩa là tu bỏ đấu tranh, bó tay bất động, chịu sự an bài. Trái lại, cốt để biết lẽ cùng thông lúc nào đáng làm, lúc nào nên ngung, lúc nào cần động, cần biến, lúc nào cần tĩnh, cần thủ. Không xuẩn động như lũ thiêu thân. Chi mệnh để tạo cho mình một thái độ thong dong đối với việc đời, ứng phó với những biến động.

Dục ngộ biến nhi vô sương hoành

Tu hường thường thời niệm niệm thủ đắc định

Dục lâm tử nhi vô tham luyến

Tu hướng sinh thời sự sự khán đắc khinh

/ Muốn cho lúc gặp cơn nguy biến khỏi hốt hoảng

Thì lúc bình thời tâm phải tĩnh, định

Muốn cho lúc chết khỏi tham luyến

Thì lúc sống phải xem thường mọi sự/.

Tri mệnh để xem thường mọi sự, coi vinh nhục cùng một rễ, tử sinh cùng một gốc. Vậy thì lo gì sống chết, sợ gì biến động.

Tri mệnh chính là một triét lý nhân sinh rất cao.

Tri mệnh cũng là một phương pháp đấu tranh rất sát với thực tiễn vậy.

Tử SINH HữU MệNH. Phú Quý TạI THIÊN

Bài tế của Mông Chính viết:

Văn chương cái thế như Khổng Tử mà có khốn ách ở nước Sái, nước Trần, vũ lực siêu quần như Lã Vọng đành ngồi câu cá nơi sông Vị. Thầy Nhan Hồi chết yểu đâu phải vì thầy là con người hung bạo. Bọn đầu trộm đuôi cướp lại sống lâu, chúng nào có lương tâm thiện gì. Vua Nghiêu, vua Thuấn là những đấng minh quân sinh ra lũ con vô lại. Ông Cổ Tẩu tâm tính ngang ngược thì con cái toàn người hiếu thuận. Cam La mười hai tuổi làm thua tướng. Mãi Thần năm mươi được công khanh. án Anh thấp bé vua Tề phong cho chức tể tướng. Hàn Tín trói gà không chặt lên ngôi vị thống suý Hán Triều. Lúc chưa gặp thời, cơm ăn không đủ ngày hai bữa, khi vận hành thông đoạt tấm ấn Tề Vương, Triệu Xong nắm giữ hùng binh nhiều nước, một sớm một chiều hết thời chết trong bụi rậm. Lý Quảng tay không đánh chết hổ suốt đời vô tước lộc. Phùng Đường tài an bang tế thế đến già vẫn chưa có chỗ dung thân. Thượng cổ thành hiền, chẳng ai chốn thoát vòng số mệnh âm dương.

Con người lúc sinh ra hấp thụ khí âm khí dương, chịu ảnh hưởng vận chuyển sinh khắc chế chế hoá mà thành số mệnh tướng cách khác nhau.

Số mệnh tướng cách khác nhau sinh ra chết sống, giàu nghèo sang hèn, bĩ thái cùng thông, thọ yểu thông qua thiên bẩm, cơ hội kết cục càng thêm muôn hình muôn vẻ.

Cổ nhân sau ngàn, vạn năm kinh nghiệm đã hạ bút đặt định nghĩa dứt khoát cho vấn đề bằng câu: "tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiền".

Những giọt lệ anh hùng xưa nay phần lớn liên hệ đến tướng mệnh. Sinh thời, Khổng Minh thường hoài bão cái chí: " ở đời khác thường, làm sự nghiệp phi thường, cùng thì tự tốt lấy ta, đạt thì đem hạnh phúc cho thiên hạ ".

Rút cuộc sự nghiệp phi thường nửa đường đứt gánh, độc thiện kỳ thân chẳng xong, kiêm thiên hạ cũng hão huyền. Mặc dầu ông đã cố gắng hết mình cúc cung tận tuỵ đến chết mới thôi, cộng với cái tài lượng hơn người, thế mà tâm trạng Gia Cát Khổng Minh lúc chết thật bi ai. Gượng bệnh sai tả hữu vực lên chiếc xe nhỏ ra trại đi xem các chỗ đóng quân. Gió thu mạnh lạnh buốt tới xương mới thở dài than rằng.

" Từ đây ta không còn được ra trận đánh giặc nữa

Trời xanh thăm thẳm, giận này biết bao giờ nguôi

Muôn việc chẳng qua do số vận

Người sao cưỡng được lòng trời "̉.

Cái lý do gây ra Cổ kim đa thiểu anh hùng lệ là tại anh hùng nan mệnh tranh hoành (Anh hùng cũng khó chống lại số mệnh )

Việc đời thiên hình vạn trạng, sớm thay chiếu đổi không đi ra ngoài vòng thiên số.

Bởi thế, cụ Trạng Trình mới dạy người sau:

" Khôn cũng chết, dại cũng chết. Biết thì sống "̉.

Biết ở đây có nghĩa là Tri mệnh.

Những câu chuyện để chứng minh hai chữ tri mệnh

Chu á Phu đương thời trọng nhậm chức Thái thú tỉnh Hồ Nam, có nhờ Hứa Phụ

Xem tướng cho mình. Hứa Phụ nói:

- Ba năm nữa ông được phong hầu

Tám năm nữa ông là tể tướng

Mười năm nữa thì ông chết đói.

Chu A Phu cười mà rằng:

- Đã phú quý tột đỉnh như thế sao còn chết đói, xin tiên sinh chỉ dậy cho tôi biết tại sao?

Hứa Phụ nói:

- Pháp lệnh ( hai vết tế mũi xuống cằm ) chạy vào miệng theo tướng pháp gọi là rắn lao vào trong miệng là tướng chết đói. ông có tướng đó.

Quả nhiên, chính trị biến động, Chu á Phu bị giam cầm, năm ngày không ăn thổ huyết mà chết.

Hứa Phụ xem tướng cho Đặng Thông báo pháp lệnh nhập khẩu thế nào cũng chết đói.

Vua Hán Văn Đế không chịu phán rằng

- Đặng thông là triều thần của trẫm, phú quí của Đặng Thông do trẫm định đoạt, trẫm có thể cho Đặng Thông cả núi đồng để đúc tiền.

Về sau Đặng Thông chết đói trong nhà một nông dân đúng như Hứa Phụ tiên đoán.

Vua Hán Văn Đế gọi Hứa Phụ vào thưởng cho châu báu rất nhiều:

Hứa Phụ coi tướng Ban Siêu nói:

- Hàm én, đầu hổ bay mà ăn thịt thực là tướng vạn lý phong hầu.

ít lâu sau, Ban Siêu bỏ văn theo võ, lập đại công uy chấn miền Tây Vực được phong làm Định Viễn Hầu.

An Lộc Sơn lúc nhỏ nghèo hèn, đi ở hầu cho Trương Thủ Khuê. Lúc rửa chân cho Khuê bỗng ngếng tay chăm chú nhìn. Khuê hỏi:

- Mày nhìn gì thế?

Lộc Sơn thưa:

- Tại tôi thấy bàn chân trái ngài có nốt ruồi lớn.

Khuê bảo:

- Đấy là cái tướng phất cờ khởi loạn của tao.

An Lộc Sơn vái chủ rồi nói:

- Thưa ngài cả hai bàn chân tôi đều như vậy.

Khuê hết sức ngạc nhiên.

Về sau An Lộc Sơn làm loạn đốt cháy kinh đô nhà Đường, khiến Đường Minh Hoàng phải bỏ chạy.

Thần phóng ẩn cư nơi thôn dã, đến thăm nhà tướng học uyên thâm Trần Hy Di.

Phóng cải dạng làm tiều phu. Trần Hy Di trông thấy cười mà rằng:

- Tiên sinh tiều phu, hai mươi năm nữa tiên sinh là bạc nhị phẩm nhân thần, thiên hạ ai cũng biết tiếng.

Đúng 20 năm sau, Thần Phóng làm giám nghị đại phu rồi thăng chức Công bộ thượng thư.

Đời Hậu Hán, Vương Mãng có tướng lạ, trán cao dô, mắt đỏ, con ngươi vàng. Tiếng nói oang oang, quyền cao, mũi lớn, miệng rộng.

Công Tôn Đề bảo Vương Mãng:

- Đầu Hổ, miệng hổ, tiếng như beo, nếu không ăn nói người tất bị người ăn.

Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán không đựơc bao lâu thì bị giết.

Ông Thánh Thán, nhà phê bình văn học danh tiếng đời Thanh, giao du rộng, bạn bè nhiều, có những tay tướng mệnh học tài giỏi thường ăn ngủ trong nhà Thánh Thán. Coi tướng cho Thánh Thán, người nào cũng tỏ ra thương tiếc, mười người xem thì cả mười người đều phê tướng cách Thánh Thán bị kết tội chém ngang lưng.

Tào Tháo sai thích khách đi ám sát Lưu Bị, thích khách vào yết kiến Bị để bày kế diệt Tào. Bị rất hợp ý, nói chuyện thật tương đắc. Khổng Minh vào, thích khách biến sắc mặt. Khổng Minh nhìn khách lạ rồi ngồi yên lặng. Thích khách đi tiểu tiện. Lưu Bị bảo Khổng Minh:

- Đó là một kỳ sĩ, có thể giúp cho ông.

Khổng Minh thở dài bảo Lưu Bị:

- - Người ấy sắc động thần huy, gian hình ngoại lậu tà tâm nội tàng. Tôi chắc hắn là thích khách của Tào Tháo sai phải tới đây.

Lưu Bị cho người đuổi theo bắt thích khách đã chạy trốn rồi.

Dương Quí Phi lúc nhỏ chạy chơi ngoài đồng ruộng. Có thầy tướng họ Trương trông thấy nói:

-Người đại phú quí sao lại ở đây?

Bạn Hữu họ Trương hỏi:

- Con bé quí đến bậc tam phẩm không?

Trương đáp:

- Hơn thế nữa.

- Nhất phẩm?

- Hơn nữa.

- Thế chắc phải là Hoàng hậu?

- Cũng chưa đúng hẳn.

Dương Quí Phi là một trong bốn người đẹp nhất của lịch sử Trung Quốc, tếng làm rung chuyển cơ nghiệp nhà Đường.

Thủa trời đất nổi cơn gió bụi

Trời đất nổi cơn gió bụi là động cơ chính để xoay chuyển vận mệnh con người.

Một nhà trí thức rời Hoa Lục qua Hương Cảng sau khi đảng Cộng Sản Trung Quốc nắm chính quyền, có làm bài thơ ngũ ngôn sau đây:

" Danh sĩ kim truỳ thạch

Tướng quân học tú hoa

Phu nhân cách hạ hải

Tiểu thư diệc đảo sa

Bộ trưởng cam ti siển

Tài thần nhẫn xuất gia

Chỉ nhân đào hoạ loạn

Luân lạc đáo thiên nha "̉

nghĩa là:

"Danh sĩ đi say gạo giã thịt

Ông tướng cầm kim chỉ thêu gối thêu khăn lấy tiền

Các bà mệnh phụ xuống biển chở đò

Tiểu thư khuê các gánh nước, giặt thuê

Bộ trưởng làm anh bán vé xe điện

Phú ông lang thang đầu đường xó chợ

Tất cả chỉ vì chạy loạn

Nên mới lênh đênh góc biển chân trời"

Thế sự là như vậy. Tất cả là biến dịch. Đời sống con người đưa đẩy trong cái dịch đó. Động biến, cùng, thông, sinh, tự hoá đúng thời, đắc vị là căn bản cho xã hội nhân sinh.

Lý lẽ của tướng mệnh ở đấy mà ra.

Những hoàn cảnh: Bèo dạt hoa trôi, cúc tàn gặp mưa, cá ao thoát lưới, mãnh hổ về rếng, yến tiệc hoa đăng.v.v.. nhất nhất cũng tế đấy mà thành.

Cơn gió bụi, tri loạn là gốc nguồn của khí số vận mệnh tạo nên vinh hoa, toả chiết, thất bại, hung tai, hỉ sự cho kiếp người.

Quan hệ tướng số giữa tập thể và cá nhân

Nói đến tướng lý và số lý người ta thường gặp câu hỏi móc họng:

- ối dào, tướng với số chỉ lắm chuyện. Thế cả cái tầu chìm ở ngoài khơi thì tất cả người trên tàu cùng một số một tướng chắc. Quả bom nguyên tử thả ở Hiroshima chết trong mười phút cả mấy trăm ngàn thì tướng với số ở đâu?

Móc họng như vậy thì thật cũng khó trả lời. Nhưng nếu cũng đem một câu hỏi móc họng khác ném ngược trở lại rằng:

- Vậy ở Hirôshima chết cả trăm ngàn nhưng có một số người cùng chung hoàn cảnh hệt như nhau mà thoát chết thì khoa học giải nghĩa ra sao?

Câu trên cũng chẳng dễ gì trả lời được Nếu câu hỏi trước lôi người ta ra khỏi màng lưới của số mệnh tướng cách thì câu hỏi sau lại du người ta vào, và cuộc cãi vã cứ dằng co mãi không phương cách gì chấm dứt.

Nhưng giữa khi đó thì bản thân số học và tướng pháp nảy sinh ra vấn đề : "Tướng tập thể"̃. Về "tướng số đông"̃ này có một lối giải nghĩa khác nữa là "vận nước"̃.

Trong thời kỳ Trung Hoa kháng chiến chống Nhật bản, có hai vị là lâm Canh Bạch nhà đoán số nổi danh và Đào Bán Mai nhà xem tướng kỳ tài vốn bạn chơi rất thân với hau, cho nên hai vị đã cùng nhau cộng tác để làm những thực chứng để mà giải đáp vấn đề. Xem tướng đoán số tập thể để đoán định thời cuộc.

Một hôm họ gặp nhau tại Bảo quán Tân Cương, Đào Bán Mai hỏi Lâm Canh Bạch đã phát hiện được ra điều gì mới lạ sau khi xem số cho nhiều người?

Họ Lâm nói:

- Về các yếu nhân trong chính phủ thì chưa thấy có gì khác lạ mới mẻ chỉ riêng có số của Thị trưởng Trùng Khánh là Ngô Quốc Trinh tì năm nay là năm đại bất như ý. Đồng thời xem cho đa số dân chúng Trùng Khánh thấy trong một trăm lá số, có đến cả bẩy trục lá số rất xấu cho năm nay.

Đào Bán Mai mới căn cứ vào lới nói của bạn, mấy ngày hôm sau liền ông tìm nơi công cộng lắm người đi lại mà sử dụng đến tài của mình. Trường hợp này, xem tướng giải quyết vấn đề tương đối dễ dàng hơn xem số. Bởi vì dù gặp người không quen, dù họ không mới vẫn đoán được như thường. Lạ thay, khi vận dụng nhãn lực với tướng pháp ra nhìn thiên hạ, Đào Bán Mai tiên sinh thấy khí sắc những người ở đây quá nửa là tưởng chết bất đắc kỳ tử mà thảm hoạ sắp chết đến rồi chỉ trong vòng 3 tháng. Sợ rằng đất Trùng Khánh này tai nạn đến nơi. Trong lúc chiến tranh, tai nạn không khỏi 2 điều: bị luân hãm hoặc bị máy bay ném bom. Đất Trùng Khánh tính trên chiến lược không thể nào bị luân hãm được, chỉ còn là vấn đề máy bay ném bom.

Đào Tiên Sinh nghĩ rất hợp lý. Vì nếu Trùng Khánh bị giặc chiếm, tất nhiên số mạng các yếu nhân chính phủ ít nhất dịch mã phải động, nghĩa là phải rời đi, nhưng theo như Lâm Canh Bạch thì không.

Còn số mệnh của ông thị trưởng Ngô Quốc Trinh thì bất quá chỉ là số mạng một cá nhân không quan thiết đến đại cục.

Cái đáng kể là Lâm Canh Bạch xem thấy nhiều số xấu rồi đến Đào Bán Mai trông thấy nhiều tướng xấu. Hai người bàn với nhau mà lo. Nhưng ai giám nói cho mọi người hay chuyện lạ khó lòng tin được ấy.

Hai ông bàn nhau: Tất nhiên nếu có thảm hoạ thì Trùng Khánh chỉ có thảm hoạ bị máy bay oanh kích. Nói đến máy bay oanh kích thì hơi khó xẩy ra thảm hoạ to tát bởi vì hệ thống hầm hố ở Trung khánh rất chắc chắn. vậy thì tướng số sai chăng? Không thể như thế được. Cá nhân còn có thể sai, cứ tập thể làm sao sai? Vả lại "̉ tử vong khí sắc"̃

Đào Bán Mai tiên sinh thấy càng ngày càng nặng thêm không giảm bớt chút nào.

Mối hoài nghi cứ dày vò mãi hai nhà tướng số.

Không bao lâu sau, cách cuộc gặp gỡ của hai vị tướng số chếng 38 ngày thì thảm hoạ lịch sử trùng Khánh xảy đến. Hàng vạn người chết chẳng phải vì dịch tễ, chẳng vì đạn bom mà chết vì chết ngạt ở dưới hệ thống hầm hố. Số người chỉ ngất xỉu đi thôi cũng bị vất lên xe đi chôn tập thể.

Tướng và số tập thể như vậy không phải là chuyện ngoa ngôn.

Đất nước chúng ta ngày nay nếu ai để ý ít nhiều tất sẽ thấy ngay trẻ con thuộc thế hệ người Việt lớp sau này đều đẹp đẽ sáng sủa hơn lớp người trước mặc dầu chiến tranh miên man, mặc dầu rối loạn không ngếng. Tướng tập thể của lũ trẻ Việt đó báo hiện một tương lai tốt cho giang sơn Việt nam.

Tướng tập thể ứng vào việc thiên đô của chính phủ kháng chiến

ở Hồng Khẩu, trước kháng chiến 5 tháng, tướng gia Đào Bán Mai gặp người bạn mời ăn cơm trưa. Ông bạn này biết tài của họ Đào nên trước đông anh em, ông bạn yêu cầu tiên sinh xem tướng cho tất cả bọn.

Bữa tiệc có khoảng chếng bẩy tám chục người. Đào Bán Mai phát hiện tượng của họ đều chung một điểm giống nhau là sắc tướng có khí mờ ám và có dấu hiệu rời đổi chỗ ở.

Khí sắc mờ ám là có sự "bất như ý"̃ "tiểu phá tài".

Khí sắc thiên di là chỉ trong nội một thời gian ngăn tất đổi rời nơi cư ngụ.

Tướng thì thế, nhưng sự thưc thì khó lòng chứng minh quá. Ai nấy đều có công ăn việc làm thì dại gì mà đi đâu. ấy vậy mới kỳ. Nghe Đào tiên sinh nói họ cười thầm. Nhưng họ cười chẳng bao lâu thì chiến tranh bùng nổ. Nhật ào ạt đổ lên Hồng Khẩu, toàn thể dân Hồng Khẩu "khăn gói gió đưa" lên đường tản cư.

Một nhà tướng số khác sau khi xem số và tướng cho các yếu nhân trong chính phủ như Tưởng Giới Thạch, Uông Tinh Vệ, Lâm Xâm.v.v... đã thi ra một điểm lạ. Trong cung thiên di của quá bán các yếu nhân đó đều thấy dịch mã nên quyết đoán như sau: Chính phủ tất phải rời Nam Kinh và đi về phía Tây. Quả nhiên chính phủ mấy tháng sau chuyển lên Vũ Hán rồi đến Trùng Khánh .

Tri nhân thiên nhiệm biết người để dùng người

Học tướng pháp để xem ai sẽ chết non chết yểu hay thọ bẩy tám mươi hoặc ai sẽ giàu có nứt đố đổ vách hay nghèo rớt mồng tơi. Nhưng đấy mới là phần tìm hiểu vận mạng một người.

Nhưng tướng pháp còn đem lại cho chúng ta một điều hữu ích khác là biết người để dùng người, biết người làm bạn biết người để cùng mưu toan việc lớn.

Những độc giả nào đã đọc Tam Quốc Chí chắc chưa quên cái tướng Nguỵ Diên chói xương phản chủ mà Khổng Minh Gia Cát biết trước để phòng trong cẩm nang để giao cho Mã Đại xử tội.

Trong vở kịch của nhà đại văn hào Anh Shakespeare vở César, có đoạn : César nhìn thấy Cassius bèn bảo cận thần của ông rằng: Các ngươi hãy canh chếng tên Cassius kia. Vóc nó gầy guộc với đôi mắt võ vàng của nhiều đêm không ngủ. Ta sợ những người như hắn. Hắn đang mưu toan hại ta đó.

Tế cổ xưa, lịch sử nhiều lần chứng minh rằng: Tất cả thành công hay thất bại quá nửa thu vào hai chữ dùng người.

Hán Cao Tổ Lưu Bang sau khi thành công rồi, một hôm hội họp quần thần lại mà hỏi:

- Các ngươi có biết tại sao ta tế áo vải chân trắng mà lên được ngôi thiên tử chăng?

Quần thần nịnh hót, tán nhảm tán nhí rằng ngài giỏi, ngài gan dạ, ngài anh minh, ngài quân tử

Để cho tâng bốc hồi lâu, Hán Cao Tổ Lưu Bang mới vuốt râu cười khe khẽ nói:

- Không phải, các người nói sai bét, sai bét.

Đám quần thần thấy những câu nịnh của mình thật trật lát, nên người nào người ấy ngồi ngẩn mặt ra.

Bấy giờ Lưu Bang mới chậm rãi phán rằng:

- Ta tài quyết liệu quân cơ không bằng Trương Lương, tài tính toán đôn đốc quân ngũ không bằng Tiêu Hà, tài chỉ huy chiến sĩ xông pha chiến trường không bằng Hàn Tín. Thế mà ta ngồi ở trên cao nhất chính là nhờ ta biết người và dùng người đúng chỗ vậy!

Ông Gia Cát Lượng khi còn nằm tại núi Ngoạ Long đã viết ra thiên ỎTri NhânÕ ( biết người ) trong tập Tướng Uyên như sau:

- Tính người thật khó hiểu. Dung mạo bất nhất, hành động trăm ngàn lối. Kẻ trông hiền lành nhu thuận mà vô đạo, kẻ bề ngoài cung kính mà trong lòng trí trá vô lễ. Kẻ trông rất hùng dũng nhưng lại nhát sợ ( kiểu các cụ đồ thường nói là già ...non hột, doạ đánh người rồi không dám đánh ). Kẻ có vẻ thật tận lực mà rất bất trung.

Tuy nhiên, biết người cũng có 7 cách:

a) Đem điều phải lẽ trái hỏi họ để biết chí hướng.

b) Lấy lý luận dồn họ vào thế bí để biết biến thái.

c)Lấy mưu trí trị họ để trông thấy kiến thức.

d) Nói cho họ những nỗi khó khăn để xét đức dũng.

e)Cho họ uống rượu say để dò tâm tính.

f) Đưa họ vào lợi lộc để biết tấm lòng liêm chính.

g) Hẹn công việc với họ để đo chữ tín.

Như thế thuật " Tri Nhân " của Khổng Minh xây dựng trên hai điểm căn bản:

1) Hình tướng ( phải học tướng pháp để khỏi lầm cái nhìn dáng bên ngoài )

2) Tâm tướng ( cách phát hiện tâm lý người khác trong khoảnh khắc ).

Đấy, tướng pháp quan trọng như thế đó. Dù đi buôn bán, hùn vốn làm kỹ nghệ hay mọi công việc chỉ có hai người trở lên mà chỉ có chút phản tướng vào đấy thôi là tất cả hỏng hết, nữa là làm chính trị.

Xin đưa vài VD

a)Người bé gan thì mục châu ( con người ) nhỏ mà vàng. Toàn mắt đen với vàng không rõ rệt nó lờ mờ. Mũi ngắn, thân mình dài hơn chân, nói lao xao nhưng không thực. Mặt trắng bệch, tính tình tham, thích thủ lợi ( xin nhớ chỉ cần phạm vào một tướng trên đây cũng đủ )

b) Lông mày thưa, xương mắt ( mi cốt ) dưới lông mày không gò lên mà lõm xuống. Hai mắt đội lộ lại đỏ. Trông bất cứ vật gì hoặc ngước lên hoặc gầm xuống không giám nhìn thẳng. Lưỡng quyền nằm ngang, quá cao ép bên cái mũi bất tương xứng. Mũi vẹo mũi không đầy đặn, mũi như móc câu. trên lưỡng quyền có những vết nhăn đi ngược, sách tướng gọi là văn loạn, quyền phá là tướng của những tên phản trắc.

c)Tướng người hiếu sắc thì thần của hai mắt lúc nào cũng lờ đờ như say rượu gọi là tuý nhãn. Nếu sóng mắt lúc nào cũng rạt rào gọi là dâm nhãn. Mắt vui ưa nhìn nhưng chứa chất tính cách hỉ hoan tình ái gọi là đào hoa nhãn.

d) Tướng loại người gian điêu thì mắt không đau mà lúc nào cũng đỏ. Hai mắt khuyết hãm. Nhưng nguy hiểm nhất là tướng mũi khoằm tựa mỏ diều hâu, có điều là cái mũi ấy thường làm cho người khác hay tin nghe bởi vì nó còn là tướng biểu lộ tài " khéo chiều lòng".

Tục nhãn và tướng nhãn với cái thú xem tướng

Đây là một câu chuyện nghiên cứu về tướng phụ nữ. Trong cuộc sống hàng ngày, ta thường nói chữ "đẹp". Chữ đẹp để chỉ đổ vật, phong cảnh, thái độ, thời tiết. Nhưng chữ đẹp hay dùng đến nhất là chữ đẹp chỉ định người đàn bà. Khi nói vào tướng số, người ta không thể áp dụng nghĩa chữ đẹp thường tình. Đẹp của con mắt tục khác và đẹp của con mắt tướng khác xa nhau.

Trước khi bàn đến cái đẹp của tướng nhãn, ta hãy nói qua cái đẹp của tục nhãn.

Phân biệt vẻ đẹp mỹ nhân, người phương Đông chia ra làm hai loại:

a) Liễu yếu mềm nhẹ như liễu: Uyển chuyển có thể bay bổng lê được nếu gặp gió.

b) Đầy đặn mơn mởn như hoa mẫu đơn đượm sương mai.

Thực ra chẳng riêng người phương Đông phân biệt như vậy. ở phương Tây cũng thế, đẹp "vamp" và đẹp "mảnh khảnh" như người Anh (beauténglaise )

Cái nhà thơ ngày xưa đã thêu dệt bằng chữ nghĩa những cô nàng vóc liễu mình mai bằng câu:

Ngọc thu lâm phong ( cây bằng ngọc đứng chỗ gió )

Quỳnh lâm ánh nguyệt ( rếng hoa quỳnh một đêm trăng sáng )

Thu vân thổ hoả nguyệt ( mây thu nhả hoa trăng )

Xuân phong phất lý hoa ( gió xuân làm lay động hoa lý )

Các ông nhà nho khác ưa vẻ đẫy đà, đầy đặn thì nhả văn ca, tụng bằng những câu:

Hải đường hàm thần lộ ( hoa Hải đường ngậm giọt sương )

Đào lý ánh chiêu hà ( bông hoa đào buổi bình minh )

Nhất tiếu bách mị sinh ( nụ cười nở trăm vẻ duyên )

Ta vẫn nói: "Thấy người đẹp mà không biết rằng đẹp tức thị là hạng không có mắt".

Tuy nhiên, đẹp là một vấn đề không dễ dàng như ta tưởng, ta hãy nhìn vào lịch sử hội hoạ kể tế Léonard de Vinci cho đến Picasso, quan niệm về đẹp đã biến đổi khá nhiều. Còn riêng cái đẹp đàn bà thì tư tưởng càng cao, vẻ đẹp càng trở nên khó để tiến tỡi mức đẹp. ấy là nói vào lĩnh vực trếu tượng. Kéo lùi về thế tục thì ta nhìn thấy người đàn bà đẹp, đấy mới chỉ là bước đầu. Bước thứ hai ta ngắm và lẽ dĩ nhiên, mức đòi hỏi của ta lên cao hơn, lúc bấy giờ ta nghĩ thêm: à đẹp thì đẹp thật, nhưng vô duyên, đẹp mà vô duyên là cái đẹp đần độn, lạnh nhạt. Bước thứ ba phê bình của ta sẽ thuộc về khứu giác phàm đẹp thì phải thơm, thứ thơm tự nhiên thân thể tiết ra. Trong trường hợp nhờ vào thơm chế tạo thì kém rồi, chẳng khác gì nước dùng phở mang vị ngọt mì chính. Cứ như vậy đến bước thứ tư, thứ năm .v.v...

Còn như vẻ đẹp đối với con mắt coi tướng thì đã đi vào chỗ chí huyền chí diệu, đôi lúc nó vượt hẳn, trái hẳn con mặt tục.

Nhìn xem trong chốn cao lâu, tửu quán, cô đầu, nhà nhẩy có biết bao nhiêu khuôn mặt đẹp. Nhìn xem phu nhân các ông to ông lớn có mấy bà không xâú như ma chôn ma vùi. Nhìn xem các ông quyền thế vợ xấu, đi lấy vợ nhỏ gần như là định lệ, vợ nhỏ thường đẹp hơn vợ lớn. Nói xong quí bạn đặt một câu hỏi. Tại sao đẹp như sao băng lại đi làm đĩ, lấy lẽ? Xấu như ma mút lại được ngôi vị quý phu nhân ?

Và câu trả lời đúng như thế này:

- Đẹp của con mắt tục khác khẳn đẹp của con mắt tướng. Dù là " cây ngọc đứng chỗ gió " hay " xuân phong phất lý hoa" hay " hoa hải đường ngậm giọt sương " mà không đi kèm với cái đẹp về tướng nhãn thù cũng phải đứng đường làm đĩ như thường.

Dù có xấu như Chung Vô Diệm thì Chung Vô Diệm vẫn làm chánh cung vua Tề, ăn nhau ở cái tướng là thế đó.

Sách tướng dạy rằng: " Mỹ nhân thường tác kỹ, mỹ trung hữu chỉ sũ" ( nghĩa là người đẹp thường đi làm đĩ vì trong vẻ đẹp có cái gì cực xấu).

Một nhà tướng số danh tiếng tại Trung Hoa kể lại chuyện dưới đây:

- Mùa xuân năm ấy, tôi đi dự bữa tiệc tại Cẩm Hoa Viên thết nhân ngày sinh nhật cuẩ Ngô Bội Phu, một chính sách quân nhân quyền thế khuynh quốc ở Bắc Kinh. Họ mời tôi đến cốt để xem tướng. Bởi vì họ muốn thử, mặc dầu họ rất tin tướng số, vì nếu không có tướng số thì làm sao dốt ngu như họ mà lại làm to như vậy. Nhưng họ vẫn hồ nghi cho nên thường hay thử tài thầy tướng số, nếu thầy tướng số quả là chân tài thì đoán đúng, họ sẽ vui sướng yên chí. Khách đến dự thật đông nhát là phái nữ. Đối với tôi dịp này rất may, tôi có cơ hội để thử lại tài học về tướng pháp.

- Tay cầm cốc rượu đi tha thẩn trong hoa viên, tôi mỉm cười trông những con "thiêu thân" đang vui vẻ hạnh phúc, hết sức vô tư qua mặt giả tạo mà trong đó tôi đã nắm chắc kẻ nào sắp mất cơ nghiệp, kẻ nào lếa chồng dối vợ, kẻ nào ăn cắp làm giàu, kẻ nào tàn ác giết người. Tướng pháp thật kỳ, nó có phép thần để đưa người nào nắm được nguyên lý của nó đi ra ngoài đường tục.

Bỗng người bạn là Đàm tiên sinh đến báo:

- Này bác, tại căn phòng phía Tây có một ngươì đàn bà, chếng trung tuổi hơi đẫy đà, da ngăm đen, bác thử hỏi xem tướng bà ta thế nào?

Ban đầu, tôi nghĩ người này chắc phải đẹp lắm nhưng tới nơi mới hay đâu chỉ là một nhan sắc cực bình thường, lúc ấy tôi cùng đi với mấy người bạn rành tướng số nữa. Chúng tôi ngắm nghía chếng mười phút thì ông bạn họ Kha của tôi nói:

- Tướng cách tốt lắm, nhất phẩm phu nhân.

Ông bạn họ Viên cười mà nói rằng:

- Đi vào đấy để đoán tướng nhất phẩm phu nhân thì dễ ợt còn gì.

Ông họ Kha hơi cáu cãi lại:

- Đành thế, nhưng bác nên nhớ rằng cách nhất phẩm cũng chuia làm nhiều hạng, với người này tôi đoán vào bậc " thượng thượng ", nhất phẩm phu nhân của người đàn bà này không nên đem so bì với những hạng nhất phẩm khác.

Tôi đồng ý với ông bạn họ Kha vì người đàn bà xấu xí về nhan sắc, quả là có những tướng cực tốt như: mũi nở, lưỡng quyền rộng và đầy, hàm lớn mà nặng, dáng đi ẩn nhẹ, tiếng nói êm ấm.

Tôi chưa kịp phát biểu thì ông bạn họ Đàm đã nói:

- Kha tiên sinh đoán hay lắm. Người đàn bà ấy chính là Ngô Bội Phu phu nhân đó.

Sau đấy chúng tôi bàn với nhau, chia ra mỗi ngả đi săn " tướng"và cùng đưa ra ý kiến là: không cần xem kỹ tướng và quý tướng ở chốn này vì đương nhiên ở đây loại tướng ấy chẳng thiếu gì.

Phân công xong mỗi người đi một ngả.

Phần tôi, ngay trong bốn mươi lăm phút đầu, tôi đã khám phá ra sáu người đàn bà, lẽ ra phải luân lạc làm kỹ nữ nhưng hiện thời thì đang ở vận nhất thời tôn quý. Tìm hiểu xa hơn nữa, tôi thấy ở đây đa số là kỹ nữ xuất thân mà rất ít tướng cách thực thụ là phu nhân, chỉ hao hao giống phu nhân mà thôi. Tôi còn thấy năm người nữa, tuy thiện tại là phu nhân nhưng không lâu, chắc lại phải trở về làm điếm, con hát. Dĩ nhiên, ở đây cũng có những tướng cách dâm loạn, ngoại tình giết chồng, sắp tái giá và chồng sắp chết v.v... Chỉ một buổi dạ hội này thôi mà chúng tôi thu thập biết bao nhiêu kinh nghiệm.

Xem xong chúng tôi về họp với nhau và phân ra làm tám loại:

1) Quý cách suốt tế tấm bé đến lớn.

2) Trước làm kỹ nữ sau làm phu nhân nhất thời.

3) Vinh viễn làm phu nhân,

4) Đã nhiều đời chồng.

5) Sắp tái giá

6) Dâm loạn

7) Có con.

8) Không con.

Theo con số thống kê thì trong hơn bốn chục người, có tới 31 người là đĩ điếm xuất thân. Chúng tôi ghi lại vào giao Đàm tiên sinh phối kiếm với bà họ Trương, một người giao thiệp rộng biết nhiều, hơn nữa bà ta cũng chính là một kỹ nữ xuất thân, bà họ Trương rất tin tướng số, tính thật thà.

Quả nhiên kế hoạch của chúng tôi rất hoàn hảo. Bà họ Trương cho chúng tôi những tin tức đúng phong phóc. Nhờ buổi dạ hội này, chúng tôi công nhận tướng pháp mỹ nhân thường tác kỷ của cổ nhân là rất đúng.

Chúng tôi chưa kịp đưa ra lập luận: mỹ nhân có bộ mặt đẹp, nhưng bộ mặt đẹp không nhất định là phúc tướng. Nhưng cũng không là ác tướng hay bẩn tướng. Vậy tại sao lại phải luân lạc vào nghề đĩ điếm ca kỹ? Câu hỏi này đưa chúng tôi đến định lý mỹ trung hữu chĩ sũ. Trong vẻ đẹp ẩn chứa một cái gì cực xấu. Như vậy gọi là phá tướng.

Phá tướng là những gì ?

Tỉ dụ: mặt người con gái ấy đẹp nhưng tiếng nói lại ồm oàm như cái lệnh vỡ.

- Thế thái dung nhan người đàn bà ấy thật là điệu mà đi như đàn ông.

- Mặt trắng nhưng da thịt toàn thân lại gợn đen như có ghét,

- Tay èo ợt như không có xương,

- Thịt mềm như bông,

- Tóc cứng như rễ tre,

- Da nhám như có sạn bụi.

Hết thảy đều là phá tướng.

Tướng làm đĩ cụ thể nhất là nhìn vào vầng trán.

Trán hẹp, trán thấp, trán nhọn, trán lõm, trán rô, trán lệch, thiên sương hãm, ấn đường nhỏ. Phàm con gái tế 15 đến 22 tuổi đi vào vận của cái trán, nếu cái tướng trán mà xấu tất chẳng khỏi luân lạc vào nghề kỹ nữ.

Thoát khỏi vận trán, đi vào vận khác, tốt thì sẽ hoàn lương lấy chồng làm ăn tử tế. Ông Trời quái ác thật, đánh dấu cuộc đời ngay trên trán con người, thế mà hồ dễ ai nhìn thấy.

Khi nhìn ra cảm thấy một cái thú vô song như người được mang chiếc yêu kính mà xem ma cười quỷ khóc trước mắt.

Quí tiên, cốt cách, khí chất

Mười năm đèn sách, mười năm nuôi khí chất, là phép tu dưỡng của người xưa.

Cốt cách và khí chất rất quan trọng cho đời người. Anh hùng hào kiệt, chân nhân quân tế là những người có khí chất tốt, cốt cách. Thành công, có địa vị là những người có hình tướng hiển đạt.

Sang hèn ( quí, tiện ) không phải chỉ căn cứ vào mũ cao áo dài, quan to bỗng hậu mà còn phải căn cứ vào khí chất con người.

Cuối đời Minh, tổng đốc hai tỉnh Tô Châu và Liêu Đông là Hồng Thếa Đào, có thầy tướng xem đã phê rõ ràng vào tướng cách của Đào ngày tháng ấy sẽ chết. Nhưng đến đúng ngày ấy, tháng ấy Hồng Thếa Đào lại không chết, khiến vị thầy tướng hết sức ngạc nhiên không hiểu tại sao ?

Đời sau mới khám phá ra lý lẽ. Đào vốn là con người có danh có vị thời bấy giờ. Quân nhà Thanh sang xâm lược Trung Quốc bắt đựơc Hồng Thếa Đào chính vào ngày thầy tướng phê là tận số. Bởi chưng Hồng Thếa Đào ham sống hàng giặc, đi làm quan cho giặc, làm Hán gian nên không bị giặc giết. Đào tế bỏ khí chất quí đáng lẽ phải có của một vị nhất phẩm nhất hạng để chấp nhận tai tiếng ti tiện thành thứ phát sinh biến tướng.

- Nếu căn cứ vào quyền thế, danh vọng Hồng Thừa Đào lúc bấy giờ Minh triều còn qua đến Thanh triều mà bảo như vậy là quý thì lầm. Chữ quý chứa chất trong nó cái nghĩa đẹp tốt, đức hạnh. Trường hợp Hồng Thừa Đào hàng giặc, làm quan cho giặc phải gọi là Tiện chứ không thể nói rằng Quí.

Ca dao có câu:

"Sáo đói thì sáo ăn da

Phượng hoàng lúc đói cứt gà cũng ăn"

Phượng hoàng loại Hồng Thừa Đào là thế.

Có kẻ hiển đạt mà ti tiện hèn hạ thì ngược lại cũng có những người đói khổ mà cao quí. Tỉ như Vũ Huấn đời Thanh, nguyên là lão ăn mày rồi đột nhiên ông ta tụ tập tranh đấu thiết lập tổ chức Nghĩa Học, dạy các em nghèo biết chữ, tạo thành phong trào đi học rộng lớn. Tuy nhiên riêng thân phận ông ta vẫn là một lão ăn mày.

Hình tướng tốt mà không có khí chất tốt vẫn kể là bất tức.

Sách tướng viết: " Cốt vi quân nhục vi thần, xương là vua thịt là bầy tôi".

Xương với khí chất đi liền với nhau cho nên ta có thể gọi là khí chất hay cốt khí hoặc cốt chất đều đựơc cả.

Nguỵ Diên đời Tam Quốc có cái xương chồi sau gáy, Khổng Minh coi cái xương đó là tướng tài giỏi nhưng phản trắc. Cốt chất thế nào, khí chất như thế. Cốt cách xấu, khí chất tất hẹp hòi, gian tà, ti tiện. Cốt chất tốt độ lượng, bao dung, sang trọng. Chỉ có tướng da, tướng thịt ngoại hình hiển đạt mà không có cốt tướng hiển đạt thì sự hiển đạt không lâu bền. Chỉ có tướng da tướng thịt ngoại hình quyền cao chức trọng mà cốt chất hèn hạ thì quyền cao chức trọng thật chưa vẹn toàn. Trái lại, tướng da, tướng thịt ngoại hình cô hàn bần bạc mà cốt chất cao quý thì thân phận tuy thấp kém nhưng danh đức độ ít người theo kịp.

Cho nên phép xem tướng trước phải xem cốt cách.

Chương tổng luận sách " Thần Tướng Toàn Biên " có chép lời của Thành Hoà Tử giảng như sau:

- Tướng mạo thanh cổ, cử động cẩn thận, lễ độ, đàng hoàng, tính tình trầm tĩnh, thanh thản, ăn nói đâu ra đấy, dõng dạc, tinh tế. Đấy là cốt chất của chính nhân quân tử.

- Hình mạo cổ quái, cử chi âm độc, ăn nói đi đứng tà dâm, thường có sát phạt chi tâm. Đấy là cốt chất của loại bất thiện – Hình mạo tú lệ, cử động phong nhã, thông minh sáng suốt, tính tình hoà nhã, ưa học hỏi tu luyện. Đấy là cốt chất của thần tiên.

Những lời trên đây, Thành Hoà Tử muốn cho người đọc thấy hình dùng của cốt chất. Đọc kỹ và suy nghĩ sẽ có thể nhận và tháu đáo đựơc.

Để cho rõ hơn, xin xem lại lịch sử nước nhà thời hai vị vua Thành Thái và Duy Tân. Cả hai ông chấp nhận tế bỏ ngôi báu chịu thân phận kẻ lưu đầy chứ không làm vua bù nhìn cho bọn Pháp thực dân. Đấy là cốt chất bậc minh quân. Đem so sánh với vua Lê Chiêu Thống sang khóc lóc với Thanh triều rước voi về dầy mồ. Đấy là cốt chất của hôn quân.

Địa vị có thể ngang nhau mà cốt chất khác nhau thì quí tiện cũng khác hẳn.

Địa vị cao thấp hơn kém nhau nhưng cốt chất khác nhau thì quí tiện phải đặt vào sự nghiệp tiếng tăm chứ không phải đặt ở mũ cao áo dài.

Vấn đề cốt chất hay khí chất xong rồi.

Bây giờ nói về hình tướng của xương cốt.

Cốt vi quân, nhục vi thần.

Xương là chủ thể, thịt da là khách thể.

Xương thịt cần phải tương xứng. Thịt nhiều xương nhỏ không được. Thịt ít xương thô không được. Tối kị người lúc nào cũng co ro như rét, sách tướng gọi là cốt hàn. tướng cốt hàn thì nghèo, hèn, chết non.

Về tướng xương, sách Khâu Ngọc Quảng viết:

- Đốt xương ví như kim thạch, cần vút cao lên, chớ ngang ngạnh ra, tròn trịa đếng thô. Người mập nên béo lẳn không lộ thịt, người gầy nên vững chắc không khẳng kheo lộ xương. Xương thịt tương xứng khí sắc tương hoà là tốt. Cốt hàn xương co quắp phi yếu tắc bần.

Sách Thông Tiên Ngữ viết:

- Quyền cốt ( xương gò má ) cao, nở rộng với ngọc trẩm ( xương sau ót giữa gáy và đỉnh đầu ) u lên là làm quan to trong triều đình.

Ông Thành Hoà Tử nói:

- Quyền cốt cao nhưng thô, mặt mày nở nhưng thịt mỏng hoan lộ lao đao. Da đầy xương nặng, khí tục là nông phu. Xương quá lớn là thợ thuyền.

Sách "Cửu Cốt Ca " viết:

Phong long quang nhuận khí bột bột

Tiện lập triều ban chấp ngọc hốt.

Phong long quang nhuận nghĩa là xương vững chắc , đầy đủ, cân đối, sáng sủa,trông đẹp như một tác phẩm điêu khắc. Khí bột bột nghĩa là còn thấy nó có lực chưa hết, chưa tàn, trông khoẻ như cành cây, thân cây được chăm nom vun bón.

Cũng sách "Cửu Cốt ca" có những câu:

- Có thịt không xương thì đi hầu.

- Có xương không thịt không ngôi vị.

- Quyền cốt chạy dài đến thái dương được dịp là làm loạn.

- Sống mũi cao thẳng lên trán quan cư thượng phẩm.

- Sau gáy xương nổi như cái trứng gà ( ngọc trẩm ) thông minh, linh mẫn.

- Quí cốt thiếu niên thị đế đình

Vô quí cốt giả chung bạch dinh.

( Có xương quí thành công sớm, không có thì suốt đời làm bạch đinh ).

Cốt tướng lấy đầu làm chủ cho nên xem tướng chỉ cần xem xương sọ. Xương đầu đã hỏng thỉ các xương khác không đáng kể nữa.

Về sau, những giang hồ thuật sĩ lập ra một lối xem tướng sờ xương dành cho những người mù. Để thêm phần quan trọng, họ nắn cả tếng xương ngón tay ngón chân. Thật ra chỉ cần nắn xương sọ là đủ.

Giết tướng giặc, đám giặc phải tan. Đầu cũng như ông tướng giặc của thân thể. Nhìn một người nếu thấy người đó đầu quả muỗm, nhỏ mà thiếu góc cạnh, chẳng cần coi thêm, ta có thể hạ ngay một câu:

Tướng chung thân bần khổ.

Bàn về thần khí - khí sắc

Đọc Tam Quốc Chí diễn nghĩa, người ta thấy câu chuyện này:

Tào Sảng nghe lời Hà Yến không dùng Tư Mã ý, tế khi Tư Mã ý thác bệnh thì Tào Sảng và Hà Yến chủ quan không lo gì nữa.

Sảng mỗi ngày cùng bọn Hà Yến uống rượu, dùng uy quyền hống hách để đi chim gái. Những đồ quí báu trong cung, những thóc gạo của dân đều cướp bóc làm của riêng.

Thấy địa vị chẳng tài cán gì mà có nên Hà Yến rất tin tướng số. Hà Yến biết tiếng Quản Lộ ở Bình nguyên tinh nghề thuật số cho mời đến bản nghĩa kinh dịch. Lúc bấy giờ có Đặng Dương cùng ngồi đấy nhân mới hỏi Quân Lộ rằng:

- Ông thử bói cho tôi một quẻ xem có làm tới tam công được không ?

Tôi lại mộng thấy vài mươi con ruồi xanh đậu trên mũi, đó là điềm gì?

Lộ nói:

- Ngày xưa Nguyên Khải giúp vua Thuấn, Chu Công giúp nhà Chu, cùng có đức tốt mà được hưởng phúc, nay quân hầu ngôi cao quyền trọng, nhưng người mến đức thì ít mà kẻ sợ oai thì nhiều, đó không phải là lối cầu phúc. Vả lại mũi là cái núi, núi cao mà không đổ, khá sợ lắm thay ! Xin quân hầu bớt chỗ nhiều, thêm chỗ ít, điều gì phi lẽ chớ làm. như thế ngôi tam công mới đến tay mà đàn nhặng xanh mới xua đi được.

Đặng Dương giận, gắt rằng:

- Lời nói láo, ra cái quái gì.

Quản Lộ cũng bực mình đứng dậy đi ra. Đặng Dương bảo với Yên Hà: " thằng ấy thật là đồ cuồng sĩ ".

Lộ về nhà thuật cho cậu nghe. Cậu giật mình nói:

- Hà, Đặng là hai người đang quyền thế hống hách, sao mày dám nói trêu chọc đến họ?

Lộ nói:

- Tôi cùng với người chết nói chuyện còn ngại gì nữa ?

Cậu hỏi tại sao thì Lộ nói:

- Đặng Dương gân không bó được xương, mạch không giữ được thịt ngồi đứng ngả nghiêng, hình như không có chân tay đó gọi là tướng quỷ tao. Hà Yến không tươi được sắc mặt, tinh thần bất định, dáng tựa cây khô đó là tướng quỷ u. Hai người nay mai tất có vạ diệt, mình can gì mà sợ.

Quả nhiên khi Tư Mã ý vùng dậy, bắt chém cả Hà lẫn Đặng. Quản Lộ nói về Hà Yến tinh thần bất định, nói về Đặng Dương ngồi đứng ngả nghiêng là xem về khí sắc, thần khí.

Thần khí khí sắc, khí vận là những điều căn bản của khoa Tướng Mệnh. Bộ vị xương cốt muốn tốt đẹp đến đâu mà thiếu thần khí, thiếu khí sắc cũng là bỏ.

Ngược lại, dù bộ vị, cốt hình tuy xấu mà thần khí hào sảng linh lợi thì lại dễ lập những kỳ công.

Thế nào là thần khí?

" Thiên thập quan sách thần tướng toàn biện " viết:

- Uy nghi như hổ hạ sơn, trăm giống thú đều kinh như chim ưng vọt bay lên khiến cáo, thỏ đều sợ. Không cần giận mà vẫn oai.

Như vậy là thần khí. Chẳng phải vì hình hài của hổ hay hình hài của chim ưng mà muông thú kinh sợ, mà vì thế oai thần do hổ, ưng vẫn có trong rếng núi. Bây giờ nếu con hổ ốm khặc khế nằm đấy, con chim ưng gẫy cánh treo trên cành cây thì muông thú nào sợ.

Đọc truyện  Đông Chu Liệt Quốc, hồi Kinh Kha mưu sát Tân Thuỷ Hoàng, cùng đi với Kinh Kha là Tần Vũ Dương tay không đấm chết trâu. Kinh Kha không khoẻ bằng. Khi đến trước mặt Tần Thuỷ Hoàng, Kinh Kha tiến lên bình tĩnh, còn Tần Vũ Dương mặt tái đi, chân tay run lập cập. Tại sao vậy?

Tại Tần Vũ Dương chỉ có lực dũng mà không có thần dũng như Kinh Kha. Thần ở đâu mà có?

" Khí tự du hề, thần tự đăng"

( Khí là dầu, thần là ngọn đèn )

"Du thanh nhiên nhi hậu đăng phương minh"

( Dầu sạch trong nên ngọn đèn mới sáng )

Như vậy thần do khí mà ra. Khí sắc là gì ?

" Nhập môn hưu vấn vinh khô sự

Đãn kiến hình dung tiện đắc trí"

Nghĩa là: Bước vào nhà chưa cần phải hỏi chủ nhân làm ăn khá hay không, chỉ nhìn hình dung là đủ biết.

Theo Tướng Mệnh học thì hình dung tức là nhìn hình thái sắc mặt hay nói khác đi là quan sát khí sắc.

Sắc mặt là biểu hiện của khí chất ở bên trong, khí chất tốt sắc đẹp mịn màng óng ả ( quan nhuận ).

Dưới đây là một câu truyện về tướng khí sắc:

Khi quân nhật chiếm lĩnh Thượng Hải, Nam Kinh, Nhật giao cho Đường Thiệu Nghi lập chính phủ bù nhìn. Những nhà chính trị chuyên nghiệp làm tay sai xôn xao bàn tán.

Nhà xem tướng danh tiếng Đào Bán Mai có hai người bạn họ Cố và họ Sái. Cả hai đều quen biết Đường Thiệu Nghi, nên Nghi mời vào nội các Bình nhật, hai người không tin tướng số lần này muốn thử tài Đào tiên sinh nên đến nhờ xem tướng. Họ dấu nhẹm câu truyện mời mọccủa Đường Thiệu Nghi và chỉ hỏi Đào Bán Mai tiên sinh đoán về "quan vận" ra sao và có phải đi đâu xa không?

Đào Bán Mai quan sát hai người hồi lâu rồi nói:

- Quan vận sắp tới nhưng phải ba tháng nữa mới thực hiên còn như đi đâu xa thì không vì không thấy dịch mã động.

Bấy giờ chính phủ dân quốc Trung Hoa tuy đã thiên đô vào sâu nội địa, nhưng vẫn lưu lại ở Thượng Hải một bộ phận cứu tế và địa hạt công tác, Đàn Bán Mai cho rằng chính phủ dân quốc sẽ giao công tác cho hai người chăng ? Nhưng theo tiên sinh biết thì cả họ Cố lẫn họ Sái đâu có gì quan hệ với tập đoàn chính trị dân quốc. Nghĩ vậy nên Đào Bán Mai mới nói thẳng, có phải hai người có ý định tham gia chính phủ bù nhìn Đường Thiệu Nghi không ?

Trước câu hỏi đột ngột cực chẳng đã, Sái và Cố đều thú nhận về ý định với Đường Thiệu Nghi rồi nói.

- Cứ theo tướng bác thì ba tháng nữa mới thực hiện quan vận trong khi chính phủ đường thiệu nghi chếng hai mươi ngày nữa thành lập xong. Bác giải thích làm sao?

- Tôi chỉ biết tướng hiện ra thế nào tôi nói thế. Tôi đoán chắc trong vòng hai tháng nữa hai bác nhất định không thể " xuất chính" được. Giải thích ra sao thì tôi cũng chỉ giải thích bằng tướng pháp hay mạng vận thôi. Biết đâu Đường Thiệu Nghi lại không vì lý do nào đó mà không tổ chức xong chính phủ. Tôi không làm chính trị cũng chưa được xem tướng cho Đường Thiệu Nghi nên tôi chỉ dám đưa ra hoaì nghi ấy thôi.

Sái và Cố nghe Đào Bán Mai nói liền bàn với nhau mời Đào Bán Mai đến xem tướng cho Đường Thiệu Nghi.

Họ gặp nhau tại Tân á đại tửu điếm. Đào Bán Mai gặp Đường Thiệu Nghi chếng hơn mười lăm phút đã vội cáo tế về ngay. Phần Đường Thiệu Nghi bận việc nên cũng đi luôn. Thế là bữa tiệc bất thành. Sái và Cố chạy theo ông bạn Đào Bán Mai gặng hỏi:

- Tại sao bác vội vàng thế ? Sao chưa nói gì với Đường huynh đã bỏ đi ngay?

Đào Bán Mai trả lời:

- Không thể nói ngay ở đây được. Chúng ta về nhà hãn hay.

Họ Cố và Sái nghe họ Đào nói cũng lấy làm kỳ quái, chắc hẳn Đào Bán Mai có tâm sự chi lạ lùng lắm. Cả ba thuê xe về nhà.

Chưa bước lên thuyền hai người đã tới tấp hỏi đào bán mai:

- Thế nào ? Bác phát hiện ra điều gì trên vóc tướng Đường Thiệu Nghi?

- Nguy hiểm vạn trạng. Các bác đếng đến gặp hắn ta nữa. Chỉ trong vòng ba năm ngày trở lại thôi.

- ? ? ? ? ?

- Thần sắc hắn ta lúc này như người đã chết một nửa rồi. Hắn ta sẽ chết bất đắc kỷ tử không biết lúc nào. Các bác hãy nghe tôi. Đếng đi đâu nữa. Chỉ trong vòng năm ngày.

- Bác nói chi mà như đinh đóng cột vậy ? Dù tướng số thì cũng phải một thời gian nó mới hiện ra được chứ? Hơn nữa, đường thiệu nghi đi đâu có bộ hạ hộ tống đàng hoàng, làm sao xẩy ra chuyện bất đắc kỳ tử?

Trế phi là ông ta bị ngộ gió độc?

Đào Bán Mai thấy hai người vẫn hồ nghi, cũng chẳng nói thêm, ông lặng lẽ xuống báo gia nhân làm cơm thết bạn.

Gần buổi chiều chếng năm giờ, bỗng ngoài phố huyện náo hẳn lên, người nhà về cho hay hiến binh Nhật đang bủa vây Tân á Tửu điểm, cùng với các tin động trời như Đường Thiệu Nghi đang ngồi uống trà ở Tân á tửu điếm cùng với mấy viên sỹ quan Nhật Bản thì một người ăn mặc rất sang trọng bước vào tới. Không ai lưu ý chi hết. Người kia đến bàn Đường Thiệu Nghi nét mặt tươi cười bình tĩnh. Nhưng vụt một cái, anh ta rút trong mình ra chiếc búa lưỡi sáng quắc và nhanh như cắt chém mạnh vào sọ Đường Thiệu Nghi. Nghi ngã vật xuống đất, liền đấy mấy trái lựu đạn khói nổi tung, khách hàng nhốn nháo. Cổ Đông, đặc viên công tác của chính phủ Trùng Khánh, người vếa xử tử Hán gian Đường Thiệu Nghi trốn thoát.

Sớm hôm sau, các báo đăng tin lớn: Đường Thiệu Nghi đã tế trần.

Thần do khí sinh ra. Sắc cũng do khí sinh ra. Vậy khí là gì ?

Câu hỏi hắc buá nhất vì khó giảng vô cùng. Vì tế y học, triết học, văn học cũng đều có danh tế khí. Tỉ dụ nói: văn người ấy chải chuốt nhưng vô khí, khí tán, rồi người ấy không có sinh khí: cái khí hạo nhiên của người quân tử...

Đọc nhiều nghe nói nhiều, người ta có thể hiểu bằng cách ý hội chứ không hiểu vì nghe giảng nghĩa. Bởi thế, mỗi lần Tây phương tìm hiểu á Đông cứ hễ đến danh tế khí là chịu chết không làm sao dịch cho đúng, không làm sao giảng cho hiểu.

Triết sử gia tiền mục giảng " khí " như sau:

Khí có hai hàm nghĩa:

a) Cực vi nhỏ lắm

b) Luôn luôn động.

Vạn vật trong vũ trụ đều do chất tốt cực vi chuyển động mà thành.

Nếu giảng như thế để áp dụng cho tướng mệnh học thì có vẻ lạc đề.

Cho nên, cách tốt nhất để hiểu thần khí, khí sắc và khí là tìm hiểu bằng cách hội ý. Cũng như không thể giảng bức tranh đẹp như thế nào. Khi ý cành lá tốt tươi mà kỳ thực rễ nó đã thối nát thì ít bữa lá rụng cành khô. Một cây khác ta trông thấy lá úa, cành trơ trụi, kỳ thực rễ nó rất khoẻ thì ít nữa cành lá sẽ xanh tươI, khí ví như cái rễ vậy.

Trần Đồ Nam nói:

- Có da mà vô khí khác nào cây gỗ bị mối ăn bên trong đã bị mục nát, gió mạnh là gẫy đổ.

Có thần khí mà vô thần nhục ( da thịt, hình tướng ) ví như cây có rễ, chưa phát ra cành lá, đợi mùa xuân đến, tất đâm cảnh nẩy nụ.

Ông Khổng Minh hình tựa cây tùng khô nhưng thần khí sáng sủa linh lợi, một sớm một chiều danh mãn thiên hạ.

ý hội phải tế tế, cho nghĩa thấm dần. Bạn đọc sẽ trở lại với lí sắc, thần khí qua những chương khác.

Dáng dấp và phong thái

Sách " Ngọc Quản Chiếu Thần " có câu:

Hành nhược phù vân toạ như đinh thạch

Đoạn hầu cẩn ngôn, tính tình khoan dật.

Nghĩa là: Đi nhẹ như mây bay, ngồi chắc như tảng đá. Nghiêm trang ăn nói cẩn thận, tính tình khoan dật.

Có dáng dấp và phong thái như trên thì sẽ: Quan sùng vị hiển tử tôn binh ( quan to chức trọng, con cháu đề huề )

Trái lại, nếu đi mà đầu lắc lư, ngồi cúi gầm mặt xuống thì bần tiện chung thân.

Dáng dấp phong thái quan trọng như thế đấy.

Toạ như đinh thạch, ngồi chắc như tảng dá là ngồi không nhấp nhỏm, chốc chốc lại đứng dậy ngả bên nọ, nghiêng bên kia, giơ tay hiơ chân rung đùi, rung về chứng tỏ thần khí đủ nên không mỏi mệt.

Tinh thần càng sung túc, sự nghiệp càng hay, người Trung Hoa nói: một phân tinh thần, một phân sự nghiệp.

Không cứ to lớn, hay nhỏ bé, hễ ngồi không ấm chỗ được lâu, sự nghiệp khó bền bỉ,.

Tinh thần đã suy nhược tất nhiên lười, không quyết đoán, ỷ lại, làm sao khá được?

Làm nên sự nghiệp là những người có tinh lực dồi dào, ý chí kiên cường, khí phách khoát đạt, tinh minh lỗi lạc.

Thiếu thần khí dù có mệnh vận tốt chẳng qua là nhất thời phong vận, càng cao lắm càng làm trò cho thiên hạ cười như Trương Tôn Xương, ông tướng thịt chó dưới thời Bắc Dương.

Thần khí là cái tốt tiềm phục bên trong, nhất đán gặp cơ hội là phát huy kiến lập sự nghiệp lẫy lừng.

Tướng mệnh học đào sâu hơn nữa về dáng dấp phong thái qua tướng ăn ngủ. Những việc thường ngày trong sinh hoạt có thể báo hiếu cát hung hoạ phúc.

Trương Phi lúc ngủ mở mắt nghiến răng, ngáy ran như sấm, ngủ say như chết, đúng là anh chàng lỗ màng chết vì đâm chém.

Gia Cát Khổng Minh ngủ như ông đã tả trong bốn câu thơ:

Đại mộng thuỳ tiêu giác

Binh sinh ngã tự tri

Thảo đường xuân thuỵ túc

Song ngoại nhất trì trì

( Giấc mộng lớn nào ai tỉnh trước

Bình sinh ta lại biết mình ta

Ngày xuân đẫy giấc trong am cỏ

Ngoài cửa trì bóng ngựa qua)

Ngủ với dáng dấp ấy nên Khổng Minh với hai bàn tay trắng mà giúp Lưu Bị chia ba thiên hạ, suốt đời ông giữ được phong thái của một trung thần chí sĩ.

Hoàng Hoa Thám nhà cách mạng kháng Pháp ngủ mở mắt, sau bị phản mà bất đắc kỳ tử.

Thành bại ở chỗ quyết đoán hay do dự

Việc thành hay bại của cá nhân do nhiều lẽ. Tuy nhiên, quyết đoán hay do dự là quan kiện trọng yếu cho thành bại. Cái nghĩa cao nhất của hai chữ quyết đoán khác hẳn hai chữ quyết liệt và bếa liều.

Trương Lương quyết thắng việc ngoài ngàn dậm chỉ cẩn ngồi trong doanh trại, khác hẳn với Hạng Võ hôm nay quyết liều một trận.

Sách tướng dạy rằng:

"kẻ nhiều ngạo khí hay liều

kẻ thần bất túc không quyết đoán".

Xem tướng để biêt ai quyết đoán, ai liều, ai do dự, xem ở đâu?

Hãy nhìn vào các bộ trên mặt, nếu thấy mi cốt ( xương dưới lông mày ) cao ngang, sống mũi nổi, quyền cốt cao, cằm đưa lên như chầu vào mũi. Đó là tướng dũng cảm quả quyết. Xong nhìn vào nhãn thần ( ánh mắt ) thấy sáng trong chứng tỏ trí tuệ cao minh, mắt thẳng thắn con người không trâng tráo, đảo điên chứng tỏ tâm lý kiên quyết không thay đổi. Cộng thêm với đôi mắt cắn chỉ ( Ngậm chặt rất khít ) cũng là dấu hiệu của tính quyết đoán. Có những tướng trên rất dễ thành công.

Đời Tam Quốc, Tuân úc t rong một cuộc dàm thoại với Tào Tháo đã nói về Viên Thiệu như sau:

- Ngoài mặt thì bào dung nhưng lòng lại đố kỵ,

- Do dự không quyết đoán dễ hỏng việc về sau.

- Trị quân lỏng lẻo, pháp lệnh không nghiêm, quân nhiều mà vô dụng.

- Cậy là kẻ có quyền thế, chuộng hư danh nên chỉ có những kẻ hẹp hòi, thấy lợi thì tôn thờ, nịnh bợ.

Tất cả những tính kể trên của Viên Thiệu bởi do dự không quyết đoán mà ra.

Quyết tâm có tạo khí thế cho sự nghiệp như sao đẩu, sao ngưu, đẹp như cầu vồng mọc ngang trên trời.

Tỉ dụ: Phạm Hồng Thái vác bom ném vào tên toàn quyền thực dân Pháp Merlin Thành bại hay không ở chỗ tên trùm thực dân có chết hay không mà ở chỗ làm nổ lên một quyết tâm diệt thù.

Lòng quyết tử tiến lên đường gió bụi

Hai bàn tay thề phục lại sơn hà

Thái Bình Dương lấpbằng niềm tủi nhục

Lấy máu đào rửa sạch máu yêu ma

( thơ Thái dịch)

khí trong sáng nhưng hình yếu đuối tài cao mà mệnh bạc

Hồn tài tử vơi đầy ngụ oan khổ

Khúc đoạn trường nên tuyệt cổ văn chương.

Hồn tài tử đây là khí chất trong sáng. Oan khổ với đoạn trường bởi trưng hình thể doanh hư. Hữu tài vô mệnh. Ngoại biểu thanh tú thông tuệ, bản chất thân thể yếu đuối, lúc nào cũng tựa người ốm đau mà không phải ốm đau. Sách tướng gọi là hình bất túc. Khí thanh nên tài cao, thể chất yếu đuối nên không lâu bền. Cho nên có mấy câu: Ỏ Khí thanh thế doanh tuy tài cao nhị bất cửu. Ta nói nói khí độ, khí phách, khí vũ, khí vận khí thế tức là nói một cái gì trếu tượng biểu xuất ra bên ngoài mà gốc của nó là tinh lực vô hình. Chẳng những nó quan hệ đến thọ yểu con người, còn quan hệ đến giàu sang, nghèo hèn, cát hung hoạ phúcỎ.

Sách Linh Sơn Bí quyết nói:

- Hình là chất vậy khí làm chi chất đầy đủ sung thực. Hình nhờ khí mà nẩy nở tươi tốt, thần nhờ chất mà an định. Thần an thì khí tĩnh. Được thua còn mất không làm cho khí hao tổn. Mếng giận không làm cho khinh động tinh thần. Lúc nào cũng điềm đạm, bao dung khí độ.

Người nào không uống rượu mà trông như say, không nói chuyện buồn mà trông âu sầu, dễ kinh hoàng sợ hãi, tinh thần bất định không thể có sự nghiệp, hoặc có sự nghiệp cũng nửa đời sụp đổ.

Hình là thân xác con người thuộc về thực chất. Khí là linh hồn con người thuộc về tinh thần. Cả hai liên hệ như dầu với đèn. Dầu khô đèn không sáng. Đèn không bấc, bóng đèn vỡ, đèn không cháy.

Sách  Ngọc Quản Chiếu Thần  nói:

- Đá có ngọc nên núi rực rớ. Ngọc là khí, đá và núi là người vậy.

Thầy Nhan Hồi, học trò giỏi của Khổng Phu Tử, mặt sáng đẹp thật thông tuệ nhưng mới ba mươi tuổi đã chết chỉ vì ngũ tạng hư, thân thể yếu đuối.

Nhà văn Vương Bột, tác giả bài phú " Đằng Vương Các " chết năm 29 tuổi cũng chỉ do cái tướng khí,thanh thể doanh hư. Hình bất túc cho nên khí thanh chẳng tụ vào đâu được.

Tinh thần mạnh, xương cốt khoẻ, phú quý  thọ khang ninh

Nóng rét gió mưa, tật bệnh là đại dịch, mệt nhọc, đói khổ là tai hoạ con người. Nếu muốn chống lại những đại dịch và những tai hoạ đó, người ta cần phải đầy đủ tinh lực.

Thần cường cốt tráng mới chịu được gió mưa, nóng rét,mệt nhọc, đói khổ. Có chịu được mới kiên trì chiến đấu mà tạo nên sự nghiệp.

Kiên trì và nhẫn nại

Không chịu lúi một phân

Vật chất tuy đau khổ

Không nao núng tinh thần.

Tôn Tẫn bị Bàng Quyên cắt gót, giả đIên lặn lộn trong chuồng heo, nếu không thần cường cốt tráng thì hỏi làm sao sống để rửa hận giết Bàng Quyên.

Hầu như hết thảy các vĩ nhân trong lịch sử thế giới chẳng ai là thiếu cái lực nhẫn lại kể trên.

Thần cường cốt tráng đã, số mệng tính sau.

Thần cường cốt tráng hiện ra hình tướng như thế nào?

a)Quyền cốt cao rộng,

b) Lông mày dài,

c)Sống mũi hữu lực,

d) Nhân trung dài, sâu,

e)Da đầu không quá căng. (Nếu căng như da trống là chết. đâù ở đây kể cả mặt )

f) Răng lớn, chặt chẽ khít khao,

g)Huyết sắc vinh phát(da mặt hồng hào, không trơn như mỡ, không ám hãm),

h)Pháp lệnh dài sâu,

i) Tiếng nói lớn mà không cụt,

j) Hơi thở đều đặn.

Thần cường cốt tráng nhưng có rất nhiều trường hợp cốt tráng mà tinh thần bạc nhược như mấy anh thân hình thì to lớn như ngu độn gọi là hình hữu dư thần bất túc thì lại thuộc tướng cách khác.

Thần cường là căn bản rồi mới đến cốt tráng.

Bốn câu thơ:

Hỡi tráng sĩ đấu tranh đầy khổ ải

Hãy trau rồi thể hiện những đau thương

Đông thê thê tuốt gươm mài khẳng khái

Hậu du du đúc trí ngọc phong sương.

Thơ thái dịch

Mài khẳng khái, hận du du, đức trí ngọc là thần cường, chịu khổ ải đau thương và phong sương là cốt tráng.

Thường thường nếu không có thần cường, thì cốt tráng cũng không chịu nổi khổ ải.

Phú quý thọ khang ninh là những gì đến sau thần cường cốt tráng. Đến sau nhưng ở bền lâu.

Mặt sáng như ngọc

Sách tướng có ghi tướng cách: Nhan như quan ngọc ( mặt mũi sáng như ngọc quan). Quan ngọc là một loại ngọc tốt không bị vết là cực đẹp. Người Trung Quốc xưa dùng hạt ngọc này để gắn lên mũ các quan đại thần.

Nhan như quan ngọc là tướng phú quý. Người trẻ tuổi mặt sáng như quan ngọc đi thi là đỗ đạt cao, hoặc cha mẹ giàu có hiển vinh. Tướng này chỉ có một điểm đáng chê trách là những anh mặt sáng như ngọc quan tính nhút nhát, nếu không nhát thì kém kiên trì. Muốn biết phải nhận xét cho tinh vì nhan như ngọc có nhiều loại : Nếu bộ mặt trắng như ngọc ấy hốt nhiên đổi thành giống như xoa phấn thì đâm ra phản trắc, bất lương gọi là phấn diện sở khanh, đàng điếm.

Nhân vật chính trị cận đại là Uông Tinh Vệ lúc thiếu niên nhan như quan ngọc sau đổi ra phấn diện khiến phải chết ô danh.

Mặt trắng sáng có mị thái thiếu nghiêm túc là bọn cợt nhả lẳng lơ. Mặt trắng sáng cần thân thể khôi vĩ, đẹp mà không mị ( nịnh nọt mơn trớn).

Xin nhớ thêm: Diện như quan ngọc chỉ là một tướng cách thôi. Nó không có nghĩa cứ phải mặt hồng hào, trắng sáng mới quí cách và sắc diện xanh, đen nâu là tiện cách. Còn tuỳ hình cục kim,mộc, thuỷ, hoả, thổ của mỗi người.

Nói chung về sắc trạch có hai yếu kiện.

1) Màu da nên bền bỉ, ngồi lâu không biến đổi,

2) Phải có quang ánh khác thường

Nếu không chỉ là loại mặt trắng đi hát tuồng hoặc đi hầu.

Mặt trắng tối kị vô tu ( không râu ), sách tướng có câu : Bạch diện vô tu chung thân phá bại ( mặt trắng không râu về già phá bại ).

Bạch diện vô tu tức là mặt đít ếch. Trắng nhẵn thín như đít con ếch. Lịch sử dân quốc có hai đại nhân vật vì tướng cách sinh ra phạm diện bạch vô tu nên lúc già bị phá bại, danh tiếng bị bôi lọ.

Vị thứ nhất là Uông Tinh Vệ, nhân vật bi kịch của chính trị, Uông Tinh Vệ tướng mạo rất đẹp, phong độ hiên ngang, ngũ quan đoan chính khả dĩ gọi là đẹp trai. Ỏ Họ Uông tuyệt thế thông minh, thi tứ văn chương đều thông hiểuÕ. Lúc trẻ dám làm chuyện kinh thiên động địa hành thích " nhiếp chính vương " nhà Thanh. Tôn Văn về nước rất trọng dụng Uông Tinh Vệ khiến cho công nghiệp của ông sáng lạn như mặt trời giữa trưa. Trong khi mọi người đều ngưỡng mộ họ Uông thì riêng ông Ngô Trĩ Huy cũng là một nhân vật chính trị tỏ ra khinh thị Uông. Lý do Huy biết xem tướng nên nhìn thấu cuộc đời Uông Tinh Vệ. Theo sự phẩm bình của ông Huy về tướng Uông Tinh Vệ thì : mắt Uông Tinh Vệ đã tròn sáng lại thêm dị quang, lòng mắt trong vắt xanh da trời chứng tỏ hiệp khí và linh mẫn. Chỉ tiếc một điều là diện bạch vô tu. Hậu vận hư hết, danh tiếng bị phỉ nhổ. Lời đoán của Huy bị anh em trê cho rằng họ Ngô chủ ý ganh ghét nên dùng tướng học để dèm.

Kháng chiến chống Nhật bùng nổ. Uông Tinh Vệ đi theo Nhật, cam tâm lập chính phủ bù nhìn. Nửa đường đứt gánh, Uông Tinh Vệ lo nghĩ quá thành bệnh mà chết. Nhật đem chôn ở núi Hoa Sơn. Nhật đầu hàng, mộ của Uông Tinh Vệ bị nhóm thanh niên ái quốc đem mìn lên phá, rồi tiếp đến hàng trăm quyển sách, hàng nghìn bài thơ thống mạ Uông Tinh Vệ.

Người thứ hai Đường Kế Nghiêu.

Nghiêu cùng Sái Ngạc đem quân lên phía Bắc đánh Viên Thế KhảI, thành công, danh vọng vang lếng toàn quốc. Về phương Nam, ông cắt đất lập giang sơn riêng.

Giữa lúc Đường Kế Nghiêu đắc ý nhất thì tại Vân nam bỗng có một vị sư không biết tế đâu tới căng biển ngữ xem tướng, trên biển đề mấy chữ: " chỉ theo duyên nghiệp mà chỉ bảo cho mười anh hùng nhân vật " dưới ký Nga Mĩ Sơn cao tăng.

Đường Kế Nghiêu thấy lạ bèn cho vời vị cao tăng kia tới, khẩn khoản xin cho biết cuộc đời của mình.

Trông Đường Kế Nghiêu hồi lâu rồi vị cao tăng viết:

- Mi nhãn dữ các bộ vị cực tương đối ( mi và mắt cùng các bộ vị rất hợp ).

Ngoại biểu anh tuấn bất phàm ( tướng bên ngoài anh tuấn khác thường ).

Duy thị bạch diện vô tu nan ngôn vĩnh thọ ( tiếc vì mặt trắng không râu nên khó lòng lâu bền ).

Hữu thập niên đại vạn ( có mười năm đại vạn )

Thập niên hậu ưng nghi cấp lưu dũng thoái quảng kết thiện duyên, tích đức bảo thọ ( mười năm sau nên rút cho mau, gắng làm điều thiện mới mong khỏi tai nạn ).

Đường Kế Nghiêu kiêu hãnh về thân phận chắc như bàn thạch của mình nên bao nhiêu lời vị cao tăng đều bỏ ngoài tai.

Dân quốc thứ 16, liên tiếp biến chuyển, hết Bắc Phạt đến Vân Nam chinh chiến. Đường Kế Nghiêu bị đánh bại uất ức quá mà chết trong cảnh bần khổ đáng thương.

Nghiêu chết năm 48 tuổi, ứng với tướng Diện bạch vô tu chung thân phá bại.

Cái kị thứ hai của mặt trắng là nộn sắc trông trẻ con. Người ta lớn lên giống như vỏ cây theo với tuổi tác mà già dặn, danh thép. Nếu lúc nào mặt cũng bụ bẫm nõn ra như đứa trẻ là phản tướng chết yểu hoặc nghèo hèn.

Ông quỉ Cốc Tế nói:

- Sắc nộn khí gian là tiểu nhân, túng hữu thành lập, diệc bất trường cửu. ( sắc nộn khí non, tiểu nhân gian tà, dù có thành việc gì cũng chỉ trong một thời gian ngắn ). Cùng diện bạch mà giá trị khác nhau rất xa, cái khó của xem tướng là thế. Cần biết vàng si vàng thực mới là mắt tinh đời.

Thanh tướng

( xem tướng tiếng nói)

Chuông có âm thanh, người có tiếng nói. Chuông làm bằng đồng tốt, da tốt thì âm thanh tốt. Người ta cũng vậy.

Xem tướng phân ra: Nhất thanh, nhị sắc, tam hình. Tiếng nói quan trọng bậc nhất, thứ đến sắc diện, sau tới hình thể.

Thầy Tử Lộ ngồi gảy đàn, tiếng đàn nghe sát phạt. Đức Khổng Tử lấy làm kinh sợ chạy vào trong nhà xem, thì ra lúc ấy đang có con mèo đuổi bắt giết con chuột nên ảnh hưởng đến tình tự người gảy đàn. Đàn mà có vậy huống hồ tiếng nói con người ta. Thời kì tổng thống Roossvelt còn tại vị, mỗi tối ông lên đài phát thanh kể chuyện cho trẻ em Mỹ nghe trước giờ chúng đi ngủ. Tiếng ông đầm ấm, cả nước Mỹ cứ vào giờ ấy lắng nghe Roosevelt.

Marc Antoine chỉ dùng tiếng nói của mình mà đánh đuổi được nhóm Brutus để phục hồi lại quyền vị César.

Muốn thuyết phục ai trước hết phải có một âm thanh truyền cảm cái đã, nói nghĩa lý mà âm thanh nhức nhối lỗ tai chẳng ai thèm nghe. Sách tướng đưa " thanh " lên hàng đầu là đúng. Oai của con sư tử là ở tiếng gầm chuyển động trời đất của nói. Nếu con sư tử mà kêu chin chít như chuột thì thật khôi hài.

Cổ nhân thường ca ngợi tiếng tốt của các lãnh tụ vua chúa bằng tiếng nói như tiếng chuông, thanh nhược chản chung. Tại sao ví tiếng nói như âm thanh của chuông đồng ? vì tiếng âm hưởng lan rộng và ngân. Tiếng nói của con người cao quí cũng phải có âm hưởng và vĩ thanh ( tức tiếng vang ngân còn vẳng lại bên tai). Nếu nghiên cứu về âm thanh học (acouis tique ) thì mới thấy sách tướng nói rất đúng.

Muốn có tiếng ngân và âm hưởng lan rộng thì nới phát ra âm thanh phải đủ mọi điều kiện để âm thanh lan rộng và ngân tiếng nói con người là khí lực, nguyên khí, nơi đan điền ( bộ phận nằm ở trong bụng dưới ).

" Quí nhân chỉ thanh xuất tự đan điền,

Tiểu nhân chỉ thanh căn tại thiệt đoan".

Nghĩa là tiếng nói quí nhân xuất ra tế đan điền còn tiếng nói tiểu nhân tế đầu lưỡi.

Thanh tướng tốt xấu như thế nào ?

Trần ấm, có âm điệu, đĩnh đạc, hơi dài là tốt. Líu ríu,láu táu, thều thào, lí nhí, hơi ngắn là xấu.

To như âm vang chuông trống,

Nhỏ như ngọc thuy lưu minh".

( nước suối mát chảy róc rách, thanh khiết âm điệu ) là tốt. Tiếng đục, tiếng thô, the thé là xấu.

Người có tiếng nói nhỏ dễ gặp hung tai. Người nhỏ tiếng nói lớn đại quí. Tiếng nói trì trệ khô cằn, trước nhanh sau chậm, trước chậm sau nhanh, chưa hết tiếng hơi thở đã mất, chưa nói mặt đã biến sắc đều thuộc loại tiện tướng.

Với phụ nữ, thanh tướng càng quan trọng. Đàn bà chỉ cần một tiếng nói sang cũng đủ làm mệnh phu nhân. Chỉ cần tiếng nói đàn ông cũng đủ ăn thịt vài ông chồng.

Đời nhà Thanh có ông Đới Hồng Tế, người Quảng Đông, thủa nhỏ nổi danh thần đồng. Chưa đầy 20 tuổi đỗ tiến sĩ vào triều làm quan tới hình bộ thượng thư. Hồng Tế có hai anh em nữa cũng đỗ đạt quan cao. Theo dân cư kể lại thì sở dĩ anh em Đới Hồng Tế được hoạn đồ đắc ý là nhờ dị tướng của bà mẹ. Nguyên lai, Đới Công, cha của Đới Hồng Tế vốn hiểu biết thâm sâu về khoa xem tướng học rộng nhưng vì mệnh số hẩm hiu nên không đạt đành phải bỏ đường làm quan vào đường buôn bán. Tuổi đã cao vẫn chưa lấy vợ. Ngày ngày miễn cưỡng ghi sổ, ghi sách, đủ chỉ dùng độ nhật vì cơ sở buôn bán cũng chẳng phát triển bao nhiêu. Một hôm có một cô gái vào tiệm mua hàng. Trông mặt cô ta thì xấu nhưng được cái sống mũi chính trực, mắt trong sáng nhất là tiếng nói réo rắt âm điệu hơi dài nghe dễ chịu. Đới Công lấy làm kỳ lạ, xấu là tướng dục, nhưng âm thanh như vậy là thần tú. Dĩ nhiên cái đẹp ấy không hợp với tục nhân nên cô chưa có chồng. Đới Công tìm người mai mối hỏi cô gái làm vợ.

Kể tế sau khi lập gia đình, cửa tiệm buôn bán của Đới Công mỗi ngày mỗi đông người mua bán. Vợ chồng hoà thuận. Đẻ liền ba con trai đặt tên là Đới Hồng Hiên, Đới Hồng Huệ và Đới Hồng Tế. Bà mẹ dạy con rất khéo, tối tố trong nhà tiếng học ran ran. Họ Đới phát phú quí làm dân vùng Quảng Đông đi đến đâu cũng nghe kể.

Trong thiên nhiên, âm thanh vĩ đại không gì bằng sấm sét.

Tiếng sấm mùa xuân làm cho vạn vật tỉnh giấc, tiếng sét mùa hạ làm cho mưa gào gió thét. Sấm sét để tuyên thị cái oai của trời đất. Nay lấy sấm sét ví với tiếng nói của người để tạo hình ảnh cho cái oai đó.

Sách có câu: tâm hữu sở dục thanh tất tuỳ chi ( mình muốn thế nào âm thanh tuỳ ý muốn ấy). Thanh âm biểu hiện tinh thần thể phách, trí tuệ và khí chất của một người.

Sách " Lễ Ký " viết:

" Cảm ư vật nhi động, cố hình ư thanh, thanh tướng ứng cố sinh biến, biến thành phương vị chi âm"

Qua nghĩa câu trên, danh tế thanh âm thì âm là dư âm của thanh, như tiếng ngân vang của chuông kêu. Thanh mà vô âm là thanh xấu. Âm thanh cao quý nhất xuất phát tế đan điền chứng tỏ thần khí đầy đủ, có cương có nhu, nghe ca thấy hùng vĩ, nghe gần thấy du dương dậy lên như cưỡi gió, im mà vẫn văng vẳng như dây đàn.

Có tiếng nói như thế, giầu sang phú quý kiêm phúc thọ vô lượng.

âm thanh xấu nhất nghe héo hắt, khô khan, nhức tai, vẩn đục, gián đoạn, nặng nề, vỡ nứt, tràn đổ ra ngoài. Héo hắt, chủ bần cùng đoản thọ, khô rít, chủ khốn đốn ức uất suốt đời. Vỡ nứt, chủ phá bại cơ khổ. Nặng đục, chủ thô lỗ. Tràn đầy nước bọt bắn tung toé, đoản thọ vạn sự vô thành. Nhức tai, chủ tài lộc bất định dù có trọng quyền cũng lận đận,lao đao. Gián đoạn, chủ hữu danh vô thực, cuối cùng thân bại danh liệt.

Coi tướng âm thanh cần phối hợp với thái độ khi nói chuyện. Người nào cười nói tự nhiên mới tốt. Vếa nói chuyện mà mặt đã đỏ lên không nên cùng người đó bàn chuyện bí mật. Lúc cười phảng phất có khốc âm ( tiếng khóc ) tất là cô độc bi khổ. Hay cười nhạt, âm thanh bạc bẽo là loại vô tình, vô nghĩa, thú đội lốt người. Tiếng nói tế đầu lưỡi xuất phát đa số làm nô tì. Đàn ông tối kị nói ỏn ẻn như đàn bà cũng như đàn bà tiếng ồ ồ đàn ông.

Nữ hữu nam thanh tất hình phu khắc tử. Nam hữu nữ thanh thanh bất tiện bần. Biểu hiện nỗi mếng chớ quá chớn thành phóng túng, nên thanh khiết không thô tục. Biêủ hiện nỗi giận nên hùng tráng chớ cay nghiệt, mạnh mà không ác. Biểu hiện nỗi sầu thảm nên bùng ra chớ tàn úa héo hon, khóc như mưa rào mà kông uất ức mỏi mòn. Biểu hiện nỗi vui thú nên nhẹ nhàng chớ điên cuồng.

Tướng bất đắc kỳ tử

 

Đặng Diễn Đạt quê quán ở Mai Huyện, tỉnh Quảng Đông. Thời kỳ Quốc cộng phân liệt, Đạt là một trong những lãnh tụ Quốc Dân Đảng bèn tách rời Đảng để tổ chức lập Đảng thứ ba, tự tôn làm Đảng trưởng. Lúc ấy Đạt mới có ba mươi tuổi.

Dân Quảng Đông không mấy người biết mặt đạt vì ông ta xuất ngoại du học tế thủa nhỏ. Về nước giữa khi Tưởng Giới Thạch hoàn thành Bắc Phạt lật đổ Viên Thế Khải. Đặng Diễn Đạt được giữ chức chủ nhiệm tổng chính trị bộ kiêm giáo dục trưởng trường Võ bị Hoàng Phố.

Một hôm đặng diễn đạt cùng Borodine ngồi xe song mã đi chơi phố ở tỉnh Vũ Xương. Borodine là trưởng phái đoàn Sô Viết sang Tầu để giúp đỡ C.S Trung Quốc hoạt động, cho nên thiên hạ thấy hai người dếng xe ở đâu là xúm lại xem đông đảo. Có những người liên hệ với trường Hoàng phố chỉ bảo xầm xì cho dân chúng biết đó là Đặng Diễn Đạt , nhân vật chính trị quan trọng. Đây là lần đầu họ trông thấy mặt họ Đặng.

Trong đám quần chúng có thầy tướng trứ danh tên Dã Hạc đạo nhân. với dân chúng và con mắt tục thì ai ai cũng trầm trồ khen ngợi Diễn Đạt khí vũ hiên ngang, mặt to tai lớn, có oai xứng đáng bậc yếu nhân của chính phủ.

Chỉ riêng Dã Hạc đạo nhân lắc đầu than tiếc: Hung tướng 38 tuổi bất đắc kỳ tử. Có người hỏi lý do, Dã Hạc đạo nhân cười mà nói rằng:

- Tướng cục họ Đặng thuộc quí cách đã đành nhưng đi đôi với quí cách ấy còn tướng đoản mệnh bất đắc kì tử. Cái tướng ấy nằm ở đôi mắt, mắt heo mà lại đầu lớn, má to như đầu heo tránh sao cho khỏi hung tử.

Đảng thứ ba của Đặng Diễn Đạt có nhiều người ủng hộ nên thế lực chính trị của ông không phải nhỏ, ít lâu sau Đạt qua Âu Châu. Đi theo Đạt là người họ Chương. Có người biết chuyện đoán tướng của Dã Hạc đạo nhân, khuyên họ Chương chớ theo Đạt. Họ Chương không tin tướng số chỉ tin vào sự thành công của đệ tam Đảng.

Khi Đạt ở Bá Linh thì tại Mạc Tư Khoa, Staline chú ý đến Đạt, nên đánh điện mời Đạt qua Nga. Đạt dự tính chuyến đi này ngoại giao với Điện Cẩm Linh, sau sẽ qua đường Tây Bá Lợi á về nước. Trước khi đi, nhân uống rượu vui mếng, Đặng Diễn Đạt thấy Chương nói chuyện Dã Hạc đạo nhân, nên mới chứng minh với bạn, Đạt rủ Chương đến thăm một cụ già ở Trung Quốc ở Bá Linh đã lâu đời, giỏi xem tướng tên là Thượng lão nhân hỏi tướng cách mình, chuyến đi thành công hay không ? Hỏi cho vui chứ thiệt Đại chẳng tin. Thượng lão nhân cho biết chuyến đi vô ích và Đạt phải trở lại Bá Linh. Đạt và Chương nhìn nhau cười.

Qua Mạc Tư Khoa ăn chực nằm chờ gần một tháng, Đạt mới gặp Staline. Mục đích của Staline là dùng Đặng Diễn Đạt thay thế cho Trần Độc Tú, lãnh đạo đảng C.S Trung Quốc. Nhưng khi gặp mặt thì Đạt nói cho Staline hay rằng mình không phải là đảng viên đảng C.S, nên Staline đổi ý lập tức và ra lệnh cho các cơ quan anh ninh trục xuất Đạt ra khỏi nước Nga ngay. Do đó, Đạt không qua Tây Bá Lợi á về nước mà phải quay lạo Bá Linh đúng như lời Thượng lão nhân.

Thâm tâm Đạt có ý thầm phục lão đoán tướng nên muốn gặp Thượng lão nhân nói chuyện thêm bàn luận tướng số. Thượng lão nhân nói:

- Cái lý của tướng học tương tự như tâm lý học, trong lòng vui nét mặt vui, trong lòng buồn nét mặt buồn. Đặng Diễn Đạt cãi:

- Đấy là hiện tượng tâm lý chứ không phải hiện tượng tướng lý.

Thượng lão nhân vốn ít ưa tranh luận nên bảo người nhà đưa cho Đạt gương soi mặt nói:

- Ông hãy soi gương rồi cho tôi biết mặt ông có những điều gì đáng chú ý.

Đặng Diễn Đạt nhìn gương hồi lâu nói:

- Tôi chỉ thấy đầu tôi quá lớn mà mắt tôi nhỏ quá.

Thượng lão nhân nói: - Chẳng những mắt nhỏ nó cong hơi đục. Hậu vận của ông tuỳ thuộc đôi mắt. Riêng tôi e khó lòng thiện chung. Đảng thứ ba của ông chắc chẳng thành cơm cháo gì đâu. Ông nên học hai chữ tri mệnh là hơn.

Đạt trả lời:

- Làm chính trị, hơn nữa là một lãnh tụ, trách nhiệm ở chỗ xung phá khó khăn trở ngại. Tôi đã nghĩ kỹ, khi về nước tất phải gặp nhiều nguy hiểm, nếu tôi không vượt qua thì ai vượt qua cho tôi cho nên tôi quyết làm cho đến cùng bất quá ngồi tù. Tù còn có nghĩa là một hành động, chứ chẳng làm gì cả nghe không được. Thượng lão nhân nói:

- Tôi chỉ nhân danh nhà tướng số mà khuyên ông thôi. Mắt ông thuộc loại hung tử. nếu ông không ở lại ngoại quốc, tướng ông thuộc loại Nam nhân Bắc tướng. nếu ông không ẩn thân về phương Nam, chỉ ba năm nữa nhất định ông chết thảm.

Đặng Diễn Đạt không nói gì. Về Trung Quốc, Đạt trương cờ đệ tam Đảng hoạt động. Nhờ bà Tống Khánh Linh, vợ của Tôn Trung Sơn ủng hộ Đạt thiết lập đại bản doanh tại Thượng Hải chiêu tập hội nghị toàn quốc.

Trong khi ấy phe Quốc Dân Đảng thế lực ngày mỗi lớn. Tưởng Giới Thạch tế bỏ chính sách liên hiệp với C.S của Tôn Văn bằng cách dùng vũ lực bắt giết phe Cộng sản, luôn thể cả những lực lượng chính trị không theo đường lối Quốc dân Đảng.

Thấy Đặng Diễn Đạt có Tống Khánh Linh hỗ trợ, Tưởng Giới Thạch càng thấy cần phải đập nát đảng thứ 3 trước khi nó thành trưởng. Đằng sau Tưởng là những thể lực tư bản ngoại quốc nên việc thoả thuận với nhà đương cuộc Tô Giới Thượng Hải dễ dàng. Chờ đúng ngày đại hội nghị toàn quốc Tưởng Giới Thạch xua mật vụ quyét một mẻ. Đạt bị giải về giam ở trong nhà ngục Nam Kinh. Mặc dầu có lời xin của Tống Khánh Linh nhưng Tưởng Giới Thạch vẫn ngầm sai người mang Đặng Diễn Đạt ra vùng ngoại ô bắn chết. Nơi Đạt bị bắn là Vũ Hoàng Đài.

Hung tử có nhiều cái chết khác nhau: do đánh nhau, đâm chém, chết tai nạn, chết vì ngộc độc, tự sát, chết vì gái.v.vẶ

Xem tướng chỉ thấy những dấu hiệu hung tử, nhưng hung tử ra sao thì khó lòng đoán ra. Còn phải tuỳ tính, tuỳ môi trường xã hội mỗi người. Tỉ dụ: tính tình mê gái, mãn diện đào hoa, nên đoán là chết vì gái. Tính tình hiên ngang bộ vì anh hùng nên đoán là chết trong lao ngục hoặc ám sát chính trị, tính tình keo kiệt, tham lam nên đoán chết vì thù oán hoặc cướp bóc. Cùng hung tử, nhưng phải phân biệt anh hùng, tiểu nhân để luận đoán cho tường. Qua các sách tướng pháp như : Tướng lý hành chân, Thuỷ Kinh, Liễu Trang, Thiết Quan Đạo nhân Luận Đại Thống, Ngọc Quản Chiếu Thần. . . thì những tướng hung tử như sau:

- Diện hữu sát khí, trên mặt có sát khí, thông thường ta gọi là mặt sát nhân, ai trông thấy cũng ghê sợ mà chẳng phải oai nghiêm. Sắc diện sám sám, mắt dữ, răng sám khô, đại khái như thế. Sát khí cảm thấy nhiều hơn nhìn rõ được hình thù.

- Nhãn tướng hung tử gồm chín loại:

a)Mắt tam giác ( tam giác nhãn)

b) Mắt chữ nhất chảy thẳng một vệt nhỏ như ti hí mắt lươn.

c)Mắt cá vàng ( kim ngư nhãn ) lồi ra con ngươi nhỏ.

d) Quỷ nhãn, đuôi con mắt không xếch lên mà quặp xuống

e)Lộ quang, mắt long lên sòng sọc hoặc sáng quá

f) Tẩu quang, ( tôi chưa biên nhận được quang ánh này nên không giám nói, chỉ ghi nguyên văn trong sách để quí vị độc giả xem tẩu quan là mực quan tiết ư nhãn ngoại).

g)Tán quang, ánh mắt đã tan rã trông mắt như mất hồn ( mục vô thần )

h)Có gân máy chạy ngang con ngươi.

i) Tứ bạch, bốn phía lòng trắng.

- Hàm bạch đứng đằng sau trông thấy xương quai hàm bạch ra, xương càng khô không có thịt càng ác liệt, tỉ dụ:

Hàm tổng thống Abraham licoln, thủ tướng Mussolini, Rudolph Hess; tướng ngữ gọi bằng hàm long, hàm chắn.

- Trán hãm mũi nguy, trán hãm thế nào ?

Một là lỗi lõm không đều,bên lồi bên lõm.

Hai lá trán lệch vẹo không ngay ngắn

Ba là trán quá nhỏ hẹp

Bốn là trán quá hẹp, tóc xâm chiếm phần nửa trán

Mũi nguy thế nào ? Có 6 loại:

1) Sống mũi cong gẫy khúc

2) Mũi tẹt đi xuống

3) Mũi vẹo

4) Mặt quá to mũi quá nhỏ

5) Mũi thật cao mà lưỡng quyền quá thấp

6) Quyền quá cao mà mũi quá thấp

- Đứng ngồi không yên : Đứng ngồi nhấp nhổm không yên lúc nào cũng như có lửa đốt trong tâm can. Con gái là tiện tướng, con trai là hung tướng.

Tuy nhiên nếu cách cục thuộc tướng khỉ thì lại phải hiếu động mới tốt.

Nên lưu ý:

- Khí bạo tính cấp, kiêu ngạo và khinh bạc, lạnh lùng, tàn nhẫn là nói về tâm tướng của hung tử.

Phá cách: Thường thấy tài tử, trung thần, hiếu tử, chân nhân tướng mạo thanh kỳ tú lệ mà bất đắc kỳ tử là do một cách phá cách nào đó ( xin xem ở những chương khác ).

Ngoài ra cần phải biết những câu phú sau đây:

Hình như trư tướng tử tất phân thi

( Hình giồng con heo, chết thây bị mổ xẻ )

Sỉ lộ thần hân tu phòng dã tế

( Răng lộ môi cong, đề phòng chết đường )

Mã diện sà tinh tu tạo hoành tử

( Mặt dài mặt ngựa, mắt con rắn chết bất kỳ)

Cái mũi và đời người

 

Thi sĩ Cao Bá Quát đọc thơ của Vua Tự Đức cùng nhóm triều thần trong thi xã của vua, đã phê bình rằng:

Ngán cho cái mũi vô duyên

Câu thơ thi xã con thuyền Nghệ An

ý chê là thối như thuyền nước mắm. Chính vì cái mũi vô duyên đó mà Cao Bá Quát mới rơi vào cảnh tù ngục chết chém.

Ba hồi chống dục mồ cha kiếp

Một nhất gươm đưa bỏ mẹ đời

Tướng con người ta kị nhất cái mũi vô duyên ( dĩ nhiên là không phải theo cái nghĩa mà Cao thi sĩ nói ), vì xem tướng trước hết phải xem cái mũi. Mũi tốt mới xem thêm, mũi xấu khỏi nói chuyện.

Bất cứ con trai hay con gái về tướng mặt đều lấy mũi làm chủ. Về tướng mũi chia ra làm hai loại: Thượng cách và hạ cách.

Thuộc về thượng cách chia ra làm ba hạng:

- Thiên tướng – thiện nhân đây là nói về phẩm cách

- Quý tướng – phú nhân đây là nói về quyền vị

- Phú tướng – phú nhân đây là nói về tài phú

Người thiện không nhất định phải giàu nhưng suốt đời vui sướng và khi chết cũng an toàn.

Người quí vị tất đã giàu, người giàu không chắc đã thiện. Cho nên hai hạng người này chưa chắc đã được vui sướng và thiện chung. Cho nên cổ nhân khi luận bàn về phúc tướng thường lấy thiện làm tốt và quí là thứ nhì, sau cùng mới đến phú. (Hiện tại là thời đại tư bản, phú quý đi luôn với quý cho nên người xem tướng cần phải thẩm định lại cái lý, chẳng nên giữ mãi quan niệm hủ lậu ngày trước).

Tướng quí thiện, phú đều phân thành ba đẳng cấp: đại, trung, tiểu. Tỉ dụ: Đại quí, trung quý và tiểu quý. Đại phú, trung phú và tiểu phú.

Mũi thuộc tướng quý thế nào ?

Phải Ỏthông thiên hữu thế Õ nghĩa là dài thẳng suốt lên đến giữa hai mắt như ống mũi ăn sâu vào trong óc tỉ như ta gọi là muĩ dọc dếa, phải có thế trông mạnh mẽ oai vệ.

Mũi thuộc tướng phú thế nào ?

Phải phong mãn tàng khổng Ỏ Nghĩa là đầy đặn, to lớn, hai lỗ mũi ẩn kín.

Lúc Tôn Văn còn bôn ba, có một vị thầy tướng đã bình phẩm cái mũi của nhà cách mạng đó rằng: đại thiện kiêm đại quý đản vô phú (mũi rất mực thiện, rất mực quý nhưng không giàu).

Quả nhiên suốt đời Tôn Vinh khó nhọc vì tiền, kể cả lúc lấy bà Tống Khánh Linh giầu sự bên Mỹ.

Trong đời chỉ có tướng mũi vếa thiện vếa quý nhưng không bao giờ có tướng mũi vếa thiện vếa quý lại vếa phú. Quý dễ đi đối với phú, có thể đi đôi với thiện. Nhưng phú ít đi với thiện.

Về tướng ác của mũi được phân biệt như sau: ác, tiện, bần.

ác, tiện, bần chia ra làm ba đẳng cấp:

- Những tướng mũi ác là tối kị. Vì người có tướng mũi ác sẽ chết bất đắc kỳ tử, thậm chí cả nhà sẽ bị thảm tử.

- ác, không nhất định phải kiêm cả bần. Bởi vì tướng mũi ác đa số dễ giầu có.

- Bần không nhất định phải kiêm cả tiện. Tuy nhiên, ở xã hội thì tướng bần, tướng tiện rất nhiều và tướng ác tương đối ít hơn. Chẳng qua chỉ vì nhiều người nghèo nên ăn chẳng vay bữa mà mang tiếng ác thôi, chứ ác không phải như vậy.

Theo truyền thống của tướng pháp Trung Hoa thì cái mũi ảnh hưởng lớn nhất đến vận mạng và tính cách con người, nam cũng như nữ.

Đối với đàn ông mũi chủ tài tinh ( tiền bạc )

Đối với đàn bà mũi chủ phu tinh ( chồng con )

Sách tướng lý hành chân dậy rằng:

- Mũi là cơ quan thẩm biện của cơ thể. Nên đầy đặn, cao lớn có thịt như mũi sư tử, mũi hổ như trái mật treo, ngay ngắn không lệch lạc không thô, không nhỏ. ( xin các bạn chú ý là to lớn nhưng không thô tục ). Như vậy là thẩm quan tốt, không giầu cũng sang.

Nếu nó giống mũi chó, mũi diều hâu, mũi dao nhọn, gồ ghề, gẫy lỗ mũi hếch, lệch và yếu ớt, sống mũi lộ, cao và cô đơn như ngọn núi. Như vậy là thẩm biên quan hư, con người có sống mũi này phải chịu lao đao, vất vả, tâm tính gian tham.

Tướng học nhận mũi là thổ tinh. Nếu thổ tinh hãm, vạn vận không có đất nuôi nấng sẽ chết khô héo. Mũi hỏng tất nhiên lục phủ ngũ tạng hư.

Đến tuổi trung niên tất vì bệnh tật mà hết nghiệp.

Trên thế gian không có giai nhân nào mũi lệch ( có thể miệng lệch vẫn là giai nhân ), cũng như không có vị anh hùng hào kiệt nào mũi hỉn, mũi nhỏ và mũi hăm, mũi tẹt dí mà thành công.

Người nào mũi thẳng đầu mũi tròn trịa có da thịt thì tính tình nhân tế,bộc trực.

Người nào mũi ngưỡng thiên thì vô nhân vô nghĩa.

Người nào mũi nhọn, đầu mũi không có thịt thì tính tình xảo trá.

Người nào mũi khoằm như lưỡi câu thì tính tình hiểm độc.

Sống mũi có đốt lộ ra ngoài là vợ chồng lực đục, đôi khi khắc, sát ( dân Tầu đi hỏi vợ bao giờ cũng trông tướng mũi trước ).

Tại Hương Cảng có một vị phú ông tên là Phó Lão Dung rất nổi tiếng về tiền bạc và về một chuyện kể dưới đây:

- Lão Dung vào đời rất nghèo khổ, sau nhờ thông minh, kiên nhẫn nên chẳng bao lâu trở thành đại phú thương. Nhưng dân Hương Cảng không chỉ nể ông vì tiền mà còn kính trọng ông vì đức. Ông là người khinh tài trọng nghĩa, được giúp ai việc gì ông rất vui vẻ. Giầu thiên ức vạn tải, nhưng trên mặt chẳng bao giờ lộ ra vẻ ngạo mạn khinh khi.

Có lần ông bị bọn cướp bắt cóc. Chúng bịt mắt ông mang xuống thuyền đẩy ra giữa dòng sông để tra khảo. Trước hết, chúng cắt một miếng tai ông, ông vẫn bình thản.

Hôm sau chúng mang đến một bát thuốc độc để trước mặt ông và bắt ông phải chọn hai điều hoặc uống hêt bát thuốc, hoặc viết thư về nhà lấy tiền chuộc mạng. Ông thản nhiên cầm lấy bát thuốc độc uống cạn một hơi. Bọn cướp ngạc nhiên hêt sức, mặt đầu bát thuốc độc chúng đem lại chỉ là bát chè " bát bảo lường xà ". Sau cùng bọn cướp chịu thua.

Tại sao Phó Lão Dung lại hành động như thế ? ông là con người bận tiện coi tiền hơn sinh mạng chăng?

Chuyện này thiên hạ bàn tán xôn xao, nhưng khi ông còn sống vẫn chẳng ai tìm ra giải đáp xuôi xoả. Mãi tới lúc ông chết câu chuyện mới vỡ lẽ. Hấp hối trên giường ông bắt người nhà mang tờ giấy hoa tiên ông cất dấu trong chiếc hộp bằng ngọc thạch cẩn kim cương. Đó là tờ giấy đoán tướng. Ông đọc xong mỉm cười rồi chết.

Người nhà đọc tờ giấy kia thì thấy những dòng chữ như sau:

" Tướng mũi người này tất phát đại phú vì nó đã đầy đặn lại còn nhiều khí lực, thêm vào đấy lại hai gò má rất phối hợp với mũi. Đến trung vận thì sẽ như rồng gặp mây. Hiềm đôi mắt hơi có chút phá cách, bởi tại ác nhãn. Như nếu biết tâm tướng mà chữa phần tướng, khĩ não giầu phải biết làm việc nghĩa ngay thì giầu có mới bền vững. Bằng không e chết chẳng toàn mạng".

Phó Lão Dung đã triệt để vâng theo lời đoán tướng trong sự đối xử hàng ngày với cuộc sống. Do đó ông đã thoát rất nhiều tai nạn. Cái lòng tin tưởng vào tâm tướng của ông lớn đến nỗi có thể cầm cả bát thuốc độc uống một hơi mà tâm hồn ông không có một chút hoảng kinh kể cũng lạ.

Khi người ta cậy dỉ mũi, vắt nước mũi với lòng tục và mắt tục làm gì có ai nghĩ rằng cái mũi quan trọng đến nhường ấy. Hàng ngày người ta thường nói với nhau thằng ấy, con ấy bị tao bóp mũi mà cái miệng tục chẳng bao giờ để ý rằng chính mình đã công nhận cái mũi là quan trọng.

Cái mũi trên mặt người ta, khi nó đi với tai, mắt, miệng được ví như sông ngòi, khi nó đi với lưỡng quyền, trán, cằm được ví như núi non mà tiếng chuyên môn gọi bằng tử độc và ngũ nhạc. Cho nên mũi với đời người rất quan trọng.

Mũi là trung nhạc (núi đứng giữa ), khí linh của phổi. Phổi tốt mũi đẹp và có lực ( hữu khí ). Mũi mà chảy xệ, người mắc chứng ho lao hoặc suyễn, che khuất nhân trung sống không quá 40 tuổi.

Theo Thần Tướng Toàn Biên, xem tướng mũi phải chia ra hình với sắc. Sắc của mũi luôn luôn quan nhuận, da dẻ mịn màng, mầu hồng vàng ong ong dưới làn da ( nếu đỏ như mũi người nghiện rượu lại vất vả ) mũi đen như tro than làm lấm lưỡi vẫn không đủ ăn.

Về hình tướng có 4 loại mũi tốt nhất:

- Huyền đởm tị: ( Mũi trái mật treo ) đầy đặn, kín lỗ mũi, sống mũi cao không lộ cốt chạy lên đến sơn căn ( giữa hai con mắt ), phú quý nhiều may mắn.

- Tài đồng tị: ( mũi như ống tre vát ) sóng mũi cao thẳng, bóng bẩy, đầu mũi và cánh mũi chắc chắn đầy đặn, phú quý.

- Long tị: ( mũi rang ) là cả ba hình mũi trên cộng lại, mũi này thuộc loại vua chúa, phú gia địch quốc hiếm có. Nó tếa tựa như mũi nhà tỷ phú Onnassis.

- Lộ khổng tị: ( hai lỗ mũi rộng toác ) nghèo khổ, túng bần.

- Cô phong tị: ( mũi như mỏm núi chon von) tự cao tự đại dễ bị ghét nên nghèo khổ.

- Cẩu tị: (mũi chó) mũi gầy guộc lộ sống mũi, hình dung thô tục, loại hèn hạ.

- Ưng chuỷ tị: ( mũi chim ưng hay mũi con két ) gian tà ác tâm.

Tóm lại, mũi tốt trên nguyên tắc chung, về hình thái phải kín lỗ mũi, ngay ngắn, đầy đặn, sống mũi cao nhưng không lộ cốt. Xấu thì lỗ mũi lộ, mũi hếch, cốt lộ mỏng, lệch.

Tướng mũi cần phải phối hợp với lưỡng quyền, mũi lớn đẹp mà quyền thấp không ăn to. Tướng mũi còn phải đi với tướng mắt. Mũi lớn đẹp mà tướng mắt hỏng dù có giầu cũng không thể sang được.

Tứ độc – ngũ nhạc – ngũ quan

Bất cứ một khoa học nào, một nghề nghiệp nào cũng có chuyên môn.

Tứ độc khoa tướng mệnh dùng để chỉ tai, mắt, mũi và miệng.

Ngũ nhạc dùng để chỉ trán, lưỡng quyền, cằm, mũi.

Ngũ quan dùng để chỉ tai, mắt mũi miệng và lông mày.

Tại sao trong bộ tứ độc có tai mắt mũi miệng như ngũ quan ?

Sở dĩ phải phân ra như vậy vì tai mũi mắt miệng được xem tướng trên hai bộ phận hình bên ngoài và khoảng trống bên trong, khoảng trống ấy ví như lòng sông, lòng ngòi, lòng suối mà thông thường gọi là lỗ tai, lỗ mũi, lỗ miệng và lòng mắt. Phần ngũ quan ngoài tai, mắt, mũi miệng còn có lông mày khác với ngũ quan, cửu khiếu của khoa cơ thể học vì lông mày theo tướng học, liên hệ đến công danh phú con người.

Trên nguyên tắc tướng tốt của tứ đọc là sâu và rộng ( thâm khoát ) có thành, bờ chắc chắn, tối kị phá khuyết. Tứ độc : tai, mũi, miệng, mắt là tượng trưng cho thuỷ. nếu phá khuyết, nước sẽ tràn gây tai hoạ.

Tai có thành ( vành tai ), quách (chỗ gồ lên gần vành tai ), lỗ tai lớn và sâu, vị trí ở cao trên mắt càng hay, dái tai đầy đặn, tai dầy mầu trắng sáng hay hồng nhuận là tai đẹp tướng. Tuy nhiên lúc xem còn phải phối hợp với mắt. Có hảo nhĩ vô hảo nhãn sẽ kém đi 80%.

Qua kinh nghiệm đa số thành công nhân vật thường có tướng mắt cực tốt hơn tai tốt.

Mắt, bộ vị quan trọng nhất của nhân thân.

Mắt phải sáng trong, lòng trắng, lòng đen phân minh mắt to con ngươi lớn, đuôi mắt hướng thượng ( mắt xếch ), ngoạ tầm ( thịt nằm dưới mắt ) đầy đặn, mắt không lộ quang đó là loại mắt kim bất hoán ( vạn lượng càng không đổi ).

Mũi (xin xem chương trên ).

Miệng cần lớn và vuông, đôi môi kín đáo không để lộ răng, góc miệng nên cong lên đếng chảy xống ( chảy xuống là miệng cá ). Sách tướng có những câu về miệng như : Thần nhược đồ chu thực lộc nhị thiên thạch ( môi tựa son hồng, bổng lộc nhiều ). Nam tử khẩu đại thực tứ phương ( đàn ông miệng lớn ăn cơm thiên hạ đi đâu cũng có ăn). Khẩu trung tự hữu hoàng kim ốc (trong miệng tự có nhà vàng).

Tứ độc là sông ngòi, ngũ nhạc là núi non.

Trán là núi phía nam tức Nam nhạc.

Cằm là núi phía Bắc tức Bắc nhạc.

Lưỡng quyền là núi phía Đông, phía Tây tức Đông nhạc và Tây nhạc. Mũi ở giữa là Trung nhạc.

Theo lối nhìn bản đồ bây giờ, phía Bắc ở trên, Nam ở dưới, nhưng tướng học thì Nam ở trên, Bắc ở dưới, vì căn cứ vào ngũ hành, Nam phương thuộc hoả mà mỗi khi hoả phát đều tụ vào trán ( người ốm sờ trán nóng nhất )

Núi non tất phải cao, hùng vĩ, khí thế. Bộ vĩ nhạc cũng vậy, cần khí thế, có khí thế mới cao sáng lớn chắc kiên cường.

Sách " Thạch Thất Thần Dị " viết:

- Muốn hỏi tiền trình thì xem khí, cục và hình dung. Ngũ nhạc là căn cốt của hình dung. Ngũ nhạc triều qui, kim thế tiền tài tự vượng ( Ngũ nhạc đẹp tiền thếa thãi ). Tướng nhạc triều qui nghĩa là cả năm nhạc cao, nở chầu vào mũi, thời buổi tao loạn rất hiếm, bởi tình thế xoay chuyển luôn luôn sinh nhiều khuyết hãm cho tướng số nên mới tạo nên cảnh lên voi xuống chó. Còn Ngũ nhạc triều qui thì tất cả đã có đều bền bỉ. Xem tướng người làm chính trị nên chú ý Ngũ nhạc. Trước khi đi vào chi tiết Ngũ nhạc, ta hãy nói về tam đình. Tam đình là gì ?

Là danh tế khoa tướng mệnh dùng để phân mặt con người làm ba đoạn:

- Tế chân tóc xuống đến sơn căn ( gốc mũi giữa hai mắt ) là Thượng đình.

- Tế sơn căn đến chuẩn đầu ( đầu mũi ) là Trung đình

- Tế chuẩn đầu đến địa các ( hàm và cằm ) là Hạ đình.

Trán thuộc Thượng đình.

Mũi lưỡng quyền thuộc Trung đình.

Cằm thuộc Hạ đình.

Thượng đình chỉ thời thiếu niên. Trung đình chỉ thời trung niên và Hạ đình chỉ thời lão niên.

Trán tức Nam nhạc ứng vận tế 15 đến 28 tuổi, cần hình thế nở rộng cốt khí sung thực. Không vết sẹo, không lấm tấm, không phá hãm, không đen dám lại như trái bưởi bị dám nắng. Có trán như vậy thời thiếu niên sung sướng con nhà khá giả, học hành đỗ đạt được nhiều người giúp đỡ. nếu trán hẹp, thiên lệch, thếa thiếu niên chuân truyên.

Sách " Ma y nói": " Thiên đình cao tủng, thiếu niên phú quí khả tì " ( trán cao rộng có hi vọng phú quí sớm).

Xem gia thế con nhà, dòng dõi hay phúc thiện hay chú ý tướng trán.

Trung nhạc tức cái mũi là vận tuổi 40 đến 50 tuổi để lập sự nghiệp. Đức Khổng Tử bảo rằng: bốn mươi, năm mươi tuổi đầu mà chưa tăm tiếng gì, kẻ đó không đáng sợ ( tứ thập ngũ thập nhi vô căn yên, tư nhân bất túc uý dã hĩ ).

Tế 40 đến 50 nếm trải mùi đời đã quán đạt, sức khoẻ còn mạnh. Nếu quá 50 mà chưa có nền móng chi cả thì sức đâu. Lực bất tòng tâm là một điều khốn khổ trong cõi nhân gian. Bởi vậy cho nên cái mũi mới quan trọng cho vận mệnh người ta. Mũi nở nang hữu lực, cánh mũi đều, sơn căn đầy. Cộng thêm với lưỡng quyền phối hợp, hai tai ứng hữu tình như ông vua có văn võ quan, quần áo uy nghiêm đứng chầu là tướng mũi hoàn toàn.

Nếu lưỡng quyền thấp hãm, hai tai mỏng manh mà mũi cao, mũi lớn đứng một mình gọi là độc tủng cô phong tượng trưng cho sự cô khắc, dù có giầu có mà cô độc khắc cha mẹ, anh em bạn bè, vợ con thì đời sống làm gì còn hứng thú nữa. Con gái có mũi độc tủng cô phong sát phu, mười lần lấy chồng vẫn hoàn quá phụ.

Đông nhạc Tây nhạc lưỡng quyền quan hệ mật thiết với cái mũi, vận hạn cùng thời với mũi.

Tính chất của lưỡng quyền là quyền uy, tự tin và tài năng lãng tụ. Sách "Vạn Kim Bí Ngữ" nói:

" Hình thế lưỡng quyền tương xứng, không thiên lệch, nếu nó lớn chạy suốt thiên sương ( gần thái dương ) đó là bậc đại trượng phu trên đời. Các quân nhân cần lưỡng quyền thật tốt mới có thể lên chức tướng được. Tuy nhiên chớ nên quên sự phối hợp của lưỡng quyền với mũi.

Bắc nhạc tức là cái cằm thuộc lão niên 55 đến 60 trở đi, tuổi kết cục cả một đời người.

Quá khứ cao sang, giầu có, phú quý, vinh hoa, oanh liệt, hiển hách mà lúc tuổi già thân bại danh liệt, vợ bỏ, con lìa, ốm đau khổ sở, chết đường chết chợ thì thật là một cảnh bi ai nhất cho kiếp nhân sinh. Cảnh bi ai đó là kết quả của tướng cằm, Bắc nhạc tước bạc, vát cằm nhọn yếu.

Tóm lại, ngũ nhạc nên nở nang, cao tủng, đầy khí thế. Trên thực tế khó kiếm ra người tướng ngũ nhạc lý tưởng như sách vở, nếu có chăng thì chỉ đếm bằng đầu ngón tay các vua chúa, các nhà tỷ phú, các trọng thần mà thôi.

Ngoài ra, đa số ngũ nhạc ở tình trạng khuyết hãm. Thấy khuyết hãm thì đoán theo khuyết hãm. Giả như Nam nhạc yếu, bốn nhạc kia tốt, tất thời thiếu niên lao đao vất vả, tử trung niên mới khá. Giả như Trung nhạc yếu là mọi sự nghiệp 45 tuổi về trước nên coi như giấc mộng đêm xuân. Còn Trung nhạc khí tuyệt nơi sơn căn thì Bắc nhạc có tốt chăng nữa cũng phải lìa đờiẶ

Ngũ quan là tai mắt, mũi, miệng và lông mày. Đưa lông mày vào bộ vị ngũ quan không rõ là nguồn gốc tế đâu, nó đã gây một thời kỳ tranh luận soi nổi. Sau cùng, lập luận các sách như: Thông Tiên Kinh, Bạch Vân Tử, Ngọc Quản Chiếu Thần, Nguyệt Ba Động, Đại Thanh Thần Giám, Băng Giam, Ma Y, Liễu Trang, Thuỷ Kính lập thành phe đa số chấp nhận lông mày thuộc ngũ quan.

Các sách đều đưa ra một nguyên tắc chung cho ngũ quan bằng câu:

Ngũ quan dục kỳ minh nhi chính ( Ngũ quan phải ngay ngắn sáng sủa ).

Minh là ưu điểm nội tại. Chính là ưu điểm ngoại biểu.

Cổ nhân định nghĩa chữ Minh: Minh là một khí thế quang khiết, lãng huy, thanh tân sống động không trầm trệ, nếu chữ minh ấy đem áp dụng vào con người thì minh là biết nhiều, hiểu rộng, khí anh hùng bột bột, quyết đoán và dũng cảm, tượng trưng cho đa năng, đa tài.