Vậy cái khí sắc mà ta nói đây là nguyên khí hay cái khí tiên thiên chứ không phải cái khí hậu thiên. Nguyên khí tốt xấu do hấp thụ tinhlinh âm dương ngũ hành khi còn ở trong bụng mẹ và khi mới chào đời.
Tuy nhiên, không phải chỉ có nguyên khí mới đáng kể còn hai loại khí khác cũng có ảnh hưởng quan trọng đối với vận số con người là: hàm dưỡng chí khí. Sở tập chí khí.
Ai tập Yoga thườg có khí hàm dưỡng.
Làm việc thiện ác thường có khí sở tập. tỉ dụ: Làm thiện trong lòng vui sướng có thể đem cái khí sở tập đó tưới cho nguyên khí tốt tươi, làm ác lo sợ thì cái khí sở tập đó tác hại cho nguyên khí khiến cho khí sắc ám hãm.
Khí có tốt thì thần mới sáng. Thần có sáng thì sắc mới đẹp.
Khí đoản thần khô, thần khô sắc trệ.
Sắc trệ chi nhân diện trần ai, người sắc trệ mà như lấm tro than. Sắc trệ thì tai hoạ sắp tới.
Tất cả bắt nguồn từ khí, cho nên mới phải gọi là coi khí sắc.
Nếu ta đặt câu hỏi: làm thế nào khí có thể biết hoạ phúc sắp tới để mà báo ra sắc?
ấy bởi nguyên khí hấp thụ tinh linh dương ngũ hành nên mới có được cái tinh linh đó cũng như con kiến biết trước trời mưa nhờ tinh linh cảm thấy những biến chuyển từ lòng đất cũng như máy Rada, cũng như máy thu thanh bắt làn sóng điện.
Có bài ca rằng:
Tinh sinh ư khí, khí sinh thần
Nhật nguyệt quang huy bản thể chân
Thần triệt ngoại minh năng chiếu vật
Thâm cùng thử lý tĩnh vô trần
khí như du hề thần tự đăng
Thần cư lưỡng nhãn đắc y bằng
Thu ba sáng lạn công danh tảo
Hôn mạo đồng nhân phúc khởi tăng
Toa hữu tinh thần lập hữu uy
Tiền sinh tu tích kim sinh thụ
Chủng đắc phượng mao phấn dực phi
Vạn vật bằng thần chủ tể sinh
Tinh thần nhất uỷ tự nan thành
Khảm kha sự nghiệp vô tha diệu
Quảng thái sa nhân tứ hải kình
Toạ, ngoạ vô thần, lập bối hàn.
Thế gian lao khổ thử gian khan
Nhãn tiền căn cách tiêu dao hào
Chung lạc trần ai khữ vũ hàn
Xin tạm dịch đại lược như sau:
Tinh do khi sa sinh, thần cũng do khí sinh
Mắt sáng cũng nhờ khí tốt
Tinh thần quán triệt cũng nhờ khí
Khí như chất dầu, tinh thần là ngọn đèn
Tinh thần ở đôi mắt.
Mắt rạng rỡ công danh sớm sủa.
Mắt lờ đờ vô phúc lộc.
Nhờ tinh thần thanh sảng nên ngồi đứng uy nghi.
Vạn vật đều do tinh thần làm chủ.
Thuộc bài ca trên đây và suy nghĩ về nó, ta có thể rõ thế nào là thần khí.
Sắc là gì?
Vui, buồn, mừng, giận đều có sắc hiện lên mặt. Buồn mặt trắng bệch ra, giận mặt đỏ lên hay tím tái. Đó là sắc của bẩy tình. Còn sắc mà tướng học đi tìm là sắc ở bên trong tạng phủ phát hiện ra ngoài mặt hoặc ra lòng bàn tay. Sắc trên tướng học là tính linh tiên tri, tiên giác về cát, hung, hoạ, phúc. Người quân tử sắc thường minh lãng (sáng sủa). kẻ tiểu nhân sắc thường ám trệ.
Sắc là tinh hoa của khí. Khí tốt sắc đẹp.
Sắc có năm màu: xanh, đen, đỏ, vàng, trắng.
Sắc có ngũ hành: xanh thuộc mộc, đen thuộc thuỷ, đỏ thuộc hoả, vàng thuộc thổ, trắng thuộc kim.
Nếu đem ra áp dụng vào y lý để xem tướng tật bệnh thì:
- Sắc trắng ở phế ( phổi) phát ra vì phế thuộc kim.
- Sắc xanh ở can (gan) phát ra vì can thuộc mộc
- Sắc đen ở thận phát ra vì thận thuộc thuỷ
- Sắc vàng ở tì (lá lách) phát ra vì thuộc thổ
- Sắc đỏ ở tâm phát ra vì tâm thuộc hoả.
Tính chất cát, hung của sắc ra sao?
Sách " Tướng Lý Hành Chân " viết:
- Xanh chủ ưu kinh lo sợ
- Vàng chủ cát khánh tốt lành
- Đỏ chủ khẩu thiệt quan tong
- Đen chủ lao ngục, bệnh tật chết chóc
- Trắng chủ ưu sầu tang tóc
Sắc ẩn hiện thế nào?
- Xanh lúc đến như rêu xanh bám trên bờ giếng, như rỉ đồng lúc đi phơn phớt màu cỏ non.
- Vàng lúc đến như tằm nhả tơ, ong ong như mầu tơ kén, lúc đi nhợt như hạt kê bóc vỏ.
- Đỏ lúc đến như lửa cháy, lúc đi nhạt như cánh sen
- Trắng lúc đến như mỡ đông, lúc đi như mỡ gạo
- Đen lúc đến như quét vệt than, lúc đi cáu bẩn
Trên đây là lối nói của cổ nhân, sự thật mặt con người ta chẳng có ai lại vàng như tơ tằm hoặc xanh như rỉ đồng. Cổ nhân, nhất là người Trung Quốc vẫn hay quá hoả. Vậy ta chỉ chấp nhận rằng sắc có ẩn hiện, đậm nhạt, đi và đến thế thôi. Chớ có lệ cổ, vàng tơ tằm là nó hao hao mầu tơ tầm không phải đi đúng in như tơ tằm.
Sắc có hình thù hay không?
Sắc có hình thù hoặc lớn như hạt gạo, hạt đậu hoặc như những sợi tơ, hoặc một miếng vuông như con dấu hoặc tròn như hạt ngọc hoặc như đám mây.
Nổi lên trên da gọi là sắc.
Nằm ở dưới da gọi là khí.
Sáng hẳn lên thanh sáng hoặc nổi lên hoặc chìm xuống hoặc tản mạn hoặc hỗn loạn.
Càng rõ rệt bao nhiêu vận càng nhanh bấy nhiêu.
Thần là gốc, khí là thần, sắc là cành lá.
Tuy phân ra làm ba nhưng vẫn chính là một thể, cho nên người có tinh thần vững chãi, không bao giờ khí lại táo cấp và sắc lại vội vàng.
Hữu thần tất hữu khí, hữu khí tất hữu sắc
Cả ba nối buộc chặt chẽ với nhau là tốt
Nếu chỉ có khí mà vô sắc vô thần, khí không có chỗ phát động gọi là khí trệ.
Nếu sắc mà không liên hệ với thần khí là loạn sắc
Thần huyết hãm hay sung thực nhìn ở đôi mắt
Khí huyết hãm hay sung thực xem ở cái mũi
Sắc khuyết hãm hay sung thực trông ở đôi môi.
Cho nên xem tướng dù người kia khí sắc tốt thế nào chăng nữa trước khi trận đoán phải rời trở lại vấn đề thần.
Dù sắc tốt thế nào chăng nữa, trước khi luận đoán phải trở lại vấn đề khí.
Dù sắc mặt tốt thế nào chăng nữa, trước khi luận đoán phải xét lại đôi nơi.
Trở lại gốc cốt để xem triệu chứng tốt ấy có lâu bền hay không? hoặc xem triệu chứng xấu có nặng không? Khi nào thấy thần bại, khí tán là hết thuốc chữa.
Trong sách "Tướng Lý Hành Chân" có một đoạn đầu đề là " Lục thần khí sắc bí quyết" như sau:
- Hai mắt đen trắng phân minh, mặt sáng rõ ánh hồng vàng gọi là sắc thanh long, sẽ phấn phát lớn.
Toàn mặt màu đỏ rần, dìa mặt như ám khói gọi là sắc chu tước, sẽ bị tai hoạ hình ngục.
Toàn mặt có sắc như tro bụi bám, tinh thần u mê gọi là sắc đường sà, gia đạo nguy biến, phá sản.
Mắt đục lờ, đen trắng lẫn lộn, thần quang hôn ám hoặc dưới mắt nườm nượp những tỏ xanh gọi là sắc Câu trần sắp gặp vạ ở đâu bay đến.
Dưới mắt trắng lờ phờ, phóng bạch quang gọi là sắc bạch hổ có tang chế
Dưới môi hoặc cằm có sắc đen như đám mây đen gọi là sắc nguyên vũ, sợ người ám hại.
Sắc đa số thuộc hung triệu, thiểu số thuộc cát triệu, dữ nhiều lành ít. Buổi trưa hôm ấy, Trần tiểu Vương gọi điện thoại hỏi:
- Tôi vừa thất tài rồi, liệu tai hoạ qua chưa?
Đào Bán Mai đáp:
Tiên sinh soi gương hoặc nhờ bà nhà đi coi dùm xem hồng quang trên mặt đã rút chưa ?
Chập sau bà Trần tiểu Vương cho biết hồng quang vẫn y nguyên.
Cụ Đào nói:
- Nếu vậy thì cái hoạ lao ngục khó tránh lắm.
Trong khi đó thì thị trường giao động mạnh, bà Trần không đủ ứng phó, Tiểu Vương sốt ruột nhào ra cưú vớt tài sản, tự nghĩ rằng mình đã tán tài rồi thì khỏi lao ngục.
Quả nhiên, nhân một vụ hối lộ không khéo. Trần Tiểu Vương bị bắt giam vào ngày thứ 11 trong cái hạn mãn diện hồng quang bất nghi thu thiên
Tứ thời khí sắc là nên có khí sắc tương sinh với bốn mùa, kị tương khắc:
Xuân yêu thanh hề hạ yêu hồng
Thu gian bạch sắc hỉ trùng trùng
Đông gian hắc khí thừa lai vãng
Nhược bất chiêu hình ứng thuỷ chung
Xuân thuộc mộc sắc cần xanh. Hạ thuộc hoả phải sắc phải hồng. Thu thuộc kim sắc nên trắng. Đông thuộc thuỷ sắc cần đen.
Chỉ có màu vàng thuộc thổ. Bốn mùa màu vàng vô hại. Mầu vànglại là màu tốt nên lúc nào vàng cũng được, chỉ cần phân biệt vàng của khí sắc đẹp hay vàng vọt bệnh tật thôi. Xin nhắc lại sắc vàng của khí sắc tốt trông như mầu vàng của con tằm vừa chín.
Tứ thời khí sắc là nói toàn bộ do mặt chứ không phải nói một vết một vầng hiện lên bộ vị. Nếu mùa thu mặt trắng rất tốt, nhưng nếu chỉ có vết trắng trên mũi vẫn phải theo luật khí sắc mà đoán. Có điều vệt trắng trên mũi vào mùa thu vì hợp với thời tiết nên bớt xấu. Xanh đỏ đen cũng cứ như thế mà đoán.
Thế nào là lưu niên vận khí?
Vận khí là khí sắc hiện lên trên mặt. Đời người quí tiện tuy thuộc cách cục nhưng nhất thời cát hung thì thuộc khí sắc. Phàm diện bộ khí trệ sắc ám, dù cho tướng cách hay cũng vẫn cùng khốn. Nếu khí sắc đẹp, dù cho tướng cách có dở cũng vẫn thông lọt.
Xem khí sắc lưu niên trên mặt để đoán biết thời vận trong một năm.
Vàng, hồng chủ cát (tốt lành)
Xanh, trắng, đỏ đen chủ hung
Nhưng nếu dầy kinh nghiệm và xem tướng đạt đến bực cao thì sẽ hiểu khí sắc có thể biến ra hung hoặc biến thành cát.
Lưu niên là kể tế 1 đến 100 tuổi. Tỉ dụ: 1 tuổi đến 5 tuổi, xem ở thiên luân( Vành tai). Từ 40 đến 45 tuổi xem ở sơn căn và sống mũi. Về lưu niên bộ vị xin xem tướng trong hình vẽ.
- Vận khí cực thịnh thì ấn đường, thái dương, đầu mũi đều ứng ánh vàng hồng, râu ria mượt bóng, tóc nhuận sáng. Cầu quan cầu lợi,việc nào cũng như ý.
Nhưng nếu lưu niên bộ vị chủ chốt lại có khí sắc xấu thì những ánh vàng hồng kia tốt giảm đi quá nửa.
- Khi nào vận khí thoát thì khí sắc chỗ khô, chỗ nhuận không đều, sáng không ra sáng, ám không ra ám, địa các thì sắc trắng, đầu mũi lại vàng hồng. Chỉ nên giữ gìn địa vị đã có, chớ vọng động.
- Vận khí lâu bền thì tai, lưỡng quyền, ấn đường suốt năm sáng rõ không ám hãm, lòng bàn tay đỏ hồng. Mắt có thể kém tươi sáng, nhưng khí vẫn bầng bầng. Mọi việc vẫn phát đạt.
- Tụ sắc là sắc tốt nhất. Tụ sắc là sắc có khí mạnh làm cho sắc trở nên sống động, sắc mà vô khí là sắc chết. Tụ sắc trông nó phơn phớt ong ong, mâng mâng từ dưới da đùn lên, phơn phởn vàng non, tầng tầng hồng nhạt, nhẹ nhẹ xanh xanh.
- Sắc ám trệ nhưng đôi mắt vẫn tinh anh, trong sáng tức là mắt có thủ thần sắc mặt xanh u ám nhưng đầu mũi vẫn ong ong mầu vàng, mặt đỏ nhưng dưới da có sắc vàng. Vận đang bĩ nhưng sắp bước qua vận tốt.
- Diện sắc tốt nhưng hai mắt mờ đục, mặt hồng hào nhưng chốc chốc lại đỏ hoặc đen sạm, mặt ong ong vàng nhưng chốc chốc lại xơ xác tiêu khô, cứ một hai ngày lại biến mầu, mọi việc đều bất lợi.
- Xem người già, xem huyết khí, không xem bộ vị, nếu da dẻ nhuận mịn màng, tóc râu óng mượt còn thọ tiêu khô hết thọ.
- Xem tráng niên lấy đầu mũi làm chuẩn xác thì phải xem buổi sáng lúc con người chưa ăn uống gì vì ăn rồi có thể l àm sắc loạn.
Thêm một câu chuyện về khí sắc
Thuật xem tướng như chúng ta đã biết chia làm hai bộ môn: hình tượng và khí sắc.
Xem tướng khí sắc khó gấp bội hình tượng.
Hiện nay rất ít người đạt đến mức "thiện quan khí sắc" có chăng thì chỉ mới xem được sắc, chứ quan khí chưa chắc đã có.
Tướng dễ nhận hơn hình. Hình dễ nhận hơn sắc. Sắc dễ nhận hơn khí.
Nói về phép Vọng Khí đời Xuân Thu Chiến Quốc chỉ có hai người là Thúc Phục, làm quan nội sử Chu triều và Cô Bố Tử Khanh, làm quan đại phú nước Tấn.
Lúc Triệu Giản Tử nắm đại quyền ở Tấn, một ngày Cô Bố Tử Khanh gặp Giản Tử để xem con cái Giản Tử sau này có nối được sự nghiệp cha ông hay không? Giản Tử lúc này quyền còn hơn cả vua nữa, nên có dã tâm muốn cướp ngôi.
Các con Giản Tử đứa nào cũng được Cô Bố lần lượt ngắm nghía nhưng đều lắc đầu chê chẳng có đứa nào đáng bậc tướng quân đả thiên hạ.
Giản Tử hỏi:
- Nếu thế họ Triệu tôi hết thời rồi sao?
Cô Bố nói:
- Lúc vào đây tôi thoáng trông thấy một đứa nhỏ tướng cách vượt hẳn mấy đứa này.
Cô Bố tả hình dáng, Giản Tử cho gọi vào thì ra đứa bé ấy là con riêng của Giản Tử tên Vô Tuất, do một tỉ nữ hạ tiện sinh đẻ cho nên Giản Tử không xem Vô Tuất vào hàng công tử.
Cô Bố xem tướng cho nó xong nói:
- Tôi chỉ thấy nó đáng bậc tướng quân thôi.
Triệu Giản Tử bảo:
- Mẹ nó là con tiện tì mà nó cũng có quí tướng sao?
Cô Bố đáp:
- Khí chất của nó bẩm thụ từ âm dương thiên địa, mẹ nó dù hà tiện nhưng nó vẫn có quí khí.
Tin lời Cô Bố, từ đấy về sau, Giản Tử đàm đạo với các con để tìm ra đứa nào khả dĩ nối nghiệp mình.
Kết quả, Giản Tử nhận thấy Vô Tuất quả là thằng con thông minh nhất. Triệu thị vốn là tôn thần của nhà Tấn, đời đời nối gót nhau ở ngôi vị khanh tướng nắm giữ đại quyền quốc gia. Cứ con ttrưởng thì được nối nghiệp cha. Trong trường hợp trưởng vô năng, cha có thể chọn trong đám con thứ đứa nào tài năng đức độ cho kế nghiệp.
Theo thường tình, tìm người nối dõi vẫn căn cứ vào sự yêu ghét. Riêng Giản Tử không lấy tình yêu ghét làm trọng, ông muốn chọn đứa con có tài.
Một hôm, ông tụ tập các con lại mà bảo chúng.
- Cha có cái ẩn ngọc dấu trên ngọn Thượng Sơn, các con đứa nào tìm được cái ẩn ngọc ấy về đây, cha sẽ trọng thưởng.
Bọn chúng chia nhau đi tìm kiếm, suốt ngày chẳng ai tìm thấy ẩn ngọc. Trở về, đứa nào đứa ấy mặt ngay đơ. Chỉ mình Vô Tuất nói:
- Con có tìm thấy ấn ngọc đó.
Giản Tử ngạc nhiên hỏi:
- ấn đâu sao con không trình ra.
Vô Tuất điềm nhiên thưa.
- Khi con lên đỉnh Thường Sơn tiếp cận với Đại Quận, con thấy có thể dùng Thường Sơn làm bàn đạp đánh chiếm Đại Quận.
Giản Tử vừa ngạc nhiên vừa sung sướng, đúng rồi, thằng Vô Tuất mới thật là đứa con xứng đáng nối nghiệp. Đại quận là nơi hiểm yếu của thế quân sự thời bấy giờ, chỉ ở Thường Sơn mới mong tấn công vào Đại Quận. Thằng bé đã sớm có mắt quân sự thật tinh tường.
Giản Tử quyết định bỏ Bá Lỗ để đặt Vô Tuất vào ngôi thái tử.
Khi Giản Tử chết rồi Vô Tuất đánh chiếm Đại Quận dương danh thiên hạ, thời thế thay đổi, Vô Tuất tranh thiên hạ với Hàn Nguỵ và lập nên nước Triệu và làm vua nước Triệu.
Một đứa nhỏ hình tượng sắc còn nhiều biến hoá nên chỉ có quán khí mới có thể đoán ra như Cô Bố Tử Khanh được.
Tướng lục ác, lục thiện, thập sát, thập đại thiên la cửu đại không vong
Tướng lục ác ( sáu cái ác) gồm có:
- Dương nhãn (mắt con dê) nhìn ngạo ngược là người bất nhân.
- Thần bát hô sỉ (môi không che được răng) là người bất hoà. (Nếu hô răng phải đầm xuống đều thì chất phác, răng đâm ngang hay ngưỡng lên, cực đều giả).
- Yết hầu, (lộ hầu) dễ chiêu tai ách
- Đầu tiểu (đầu nhỏ) nghèo mạt vô lộc. – Tam đình bất quân (tam đình không đều), nghèo hèn.
- Xà hành tướng được (đi oằn oèo như rắn, dướn dướn như chim sẻ nhẩy), bôn ba lao khổ.
- Thơ rằng:
Lục ác chi nhân tính phi thường
Tâm như sà yết độc như lang
Như thử chi tướng hưu vấn phúc
Chung tửu vo phòng hữu hoạ ương
Nghĩa là:
Những người có tướng lục ác, tâm địa như rắn rết
Có tướng đó là vô phúc thế nào cũng gặp tai ương
Tướng lục tiện (sáu hạ tiện) gồm có:
- Không biết xấu hổ liêm sỉ
- Trước việc hay cười ngây (si tiếu).
- Không biết tiến thoái.
- Dáng lùn bé ưa, đùa cợt. - Thích khoe mình
- Luôn luôn nói theo người khác
* Tất cả đều tiểu nhân.
Tướng thập sát đều có:
- Mặt như say rượu
- Không có ai mà cứ nói một mình
- Không có đờm mà nhổ hoài
- Mắt đỏ dữ dằn
- Tinh thần hôn trọc
- Tiếng nói như sài lang
- Có râu mà không ria
- Cứ ăn là đổ mồ hôi
- Mũi lệch
- Người hôi hám
* Tướng thập sát dễ bị phá bại, đau buồn, tai ương.
Thơ rằng:
Thập sát hình tướng tối khả lân
Bất hại kỷ thân hại lục thân
Nhãn tiền sán thực tuy tự cấp
Chỉ khủng nhật hậu thụ cô bần
Nghĩa là: tướng thập sát thật đáng thương, nếu không hại cho bản thân mình cũng hại cho người thân. Ăn uống hôm nay no đủ, nhưng mai lại thiếu thốn.
Cửu đại không vong gồm có:
- Trán nhọn là thiên không, vô quan vận, phá gia nghiệp, thiếu niên bất lợi
- Cằm nhọn là địa không, tuổi già là cô độc, vợ chồng chia cách, làm việc hay hỏng.
- Mũi lộ hếch là nhân không, trung niên phá bại, làm ăn vất vả.
- Sơn căn thấp hãm, vợ chồng anh em ghét bỏ, tinh cốt nhục huỷ hoại
- Mặt không thành quách (không vuông vắn có bờ) vạn sư hư hao, có đấy rồi mất ngay đấy.
- Tóc ngăm khô mà quăn, trung niên phá bại, làm ăn vất vả.
- Lệ đường thâm hãm, hình thê khắc tử, suốt đời lo âu.
- Mắt không thần quang, ngu và yếu, dễ làm hỏng việc.
- Không có lông mày (hoặc lông mày qúa nhạt), cô độc vất vả.
Thơ rằng:
Không vong nhân tướng tối kham liền
Túng hữu kỳ tài bất chu tiền
Nhất sinh sai thố vô kết quả
Tổng nhân tiền duyên giữ hậu duyên
Nghĩa là: Những người có tướng không vong dù là bậc kì tài cũng khó thành đạt. ấy là bởi tiền duyên tiền kiếp vậy.
Tướng thập đại thiên la gồm có:
- Đầy mặt sắc đen là tử khí thiên la
- Đầy mặt sắc trắng đục là tang khốc thiên la
- Mặt xanh lét là ưu trệ thiên la.
- Mặt vàng lè là tật bệnh thiên la
- Mặt như bôi mỡ là hư hoa tiên la.
- Mắt đảo lộn trông nhanh là gian dâm thiên la
- Mắt khô như hơ lửa là quan tỉ thiên la
- Mặt như say rượu chưa tỉnh là hình ngục thiên la
- Đầu mũi lấm chấm nhử bám ghét là thoái bại thiên la.
-
Tam hàn và tứ thập nhất kị
Tướng cô hàn của mỗi người rõ rệt nhất có ba điều sách tướng gọi là tam hàn.
Thứ nhất là mi hàn:
Người mang tướng mi hàn lúc nào lông mày cũng cau lại, đăm chiêu tư lự, lưỡng mi nhăn nhúm líu díu với nhau.
Thứ hai là thanh hàn:
Người mang tướng thanh hàn khi nói nhức khúc xương chẹn ngang cổ họng nói không ra lời.
Thứ ba là cân hàn.
Cân là gân, người mang tướng cân hàn ngồi co ro, rụt đầu, co lưng, so vai, bó gối mặc dầu trời nóng bức, rét ở trong rét ra.
Phạm ba tướng ttrên đây dù diện mạo đẹp tốt cũng khó lòng phấn phát.
Viên Liễu Trang thu nhập biên thành 41 kỵ tướng cho đàn ông gồm có:
- Đầu kị lệch nhỏ – Tóc kị khô nặng – Mi kị quặp xuống – Tai kị nở hoa – Con ngươi kị lộ – Sống mũi kị bẹp - Sống mũi kị gẫy khúc - Đầu mũi kị nhọn – Cằm dúm dó – Hàm kị vát – Cổ kị lộ cốt – Trán kị mọc lông – Ngực kị gồ lộ – Lưng kị có rãnh – Vú kị trắng bệch – Bụng kị to bên trên – Đầu gối kị lệch lẹo – Mắt chân kị lộ gân – Bắp chân kị quắt queo – Ngón tay kị thô cứng – Đầu kị teo tắt – Tiếng nói kị thấp nhỏ – Cánh tay kị lộ cốt – Bàn tay kị mỏng dẹt – Ngón tay kị dài mà cong queo – Răng kị nhỏ, thưa – Bước đi kị như rắn trườn – Tinh thần kị ô trọc – Sắc kị nhờn như dầu – Thở kị thô đục – Thịt kị nhẽo nổi – Tai kị thô – Máu kị ám trệ – Tai kị lởm chởm như bụi cỏ – Rốn kị vị trí quá thấp mà đổ xuống.
Vấn đề khắc phục ác vận
ác vận là những khoảng thời gian ngắn bất như ý trong đời người lao đao, tai nạn, thiếu tiền, thất bại.
Nhân sinh bất đắc ý sự thường bát cửu, nghịch cảnh bao giờ cũng nhiều hơn thuận cảnh.
Lão tử chẳng đã nói:
- Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật vi số cẩu
Cuộc đời như cụ Nguyễn Gia Thiều tả:
- Mùi tục luỵ lưỡi tê tân khổ
Đường thế đồ gót rỗ khi khu.
Thuận cảnh chỉ có thể gặp chứ không thể tìm hay cầu xin (khả ngộ bất khả cẩu).
Khổng Tử bảo rằng nếu như có thể cầu được phú quí thì ta bằng lòng làm tên chăn ngựa.
Nghịch cảnh theo tướng pháp tuy không ngăn cản được nó nhưng có thể khắc phục được nó phần nào.
Tại sao?
Cau tục ngữ "Hoạ tòng khẩu xuất, đa ngôn, đa quá", có ý nói nếu kìm giữ mồm miệng thì đỡ phiền luỵ, điều này đâu phải không có lý? Kế cuối của 36 kế là Tẩu Vi thượng sách.
Chạy, chờ thời không xuẩn động là một hànhvi khắc phục ác vận trên chính trị.
Căn cứ vào triết lý nhân sinh thì thuận cảnh hay nghịch cảnh đến với người ta qua 4 nguyên nhân.
a)Do thiên tai chi hoạ, gây nên bởi hiện tượng tự nhiên, lụt lội, hạn hán mất mùa, núi đổ dông bão tai nạn.
b) Do con người không thích ứng với hoàn cảnh tự nhiên, với chế độ xã hội với cuộc sống mới.
c)Do sự tranh sống tương tàn tương sát
d) Do cá nhân dục vọng quá nhiệt đến nỗi bị sa lầy như mê cờ, mê bạc tự tử hay vong gia bại sản vì gái.
Nếu nhân loại không khắc phục được thiên tai nhân hoạ, kiến lập xã hội mới chế ngự dục vọng quá nhiệt thì đương nhiên nghịch cảnh nhiều hơn thuận cảnh.
Thế cho nên mới có thể nói rằng: "Tam phần nhân sự thất phần thiên"
ác vận tới, con người khả dĩ khắc phục ác vận để giảm bớt mũi nhọn của ác vận.
Vô luận bọn dung tục phàm phu hay anh hùng hào kiệt ai ai cũng có thời nghịch cảnh và thuận cảnh. Mỗi người đứng một chỗ khác nhau nên Sở Ngô không thể giống nhau.
Sinh ra đời vào lúc thái bình thịnh thế tất cuộc sống đỡ bấp bênh chìm nổi.
Sinh ra đời gặp lúc tao loạn nhiễu nhương tất cuộc sống đầy bất trắc.
Là con cái nhà phú hào thì thành thiên kim tiểu thư và công tử ấm sinh. Là con nhà nghèo đói thì luốc lem, rách rưới.
Đêm qua vừa được nói chuyện với tình nhân sáng ngày tỉnh dậy vũ trụ nở muôn hoa. Tối trước bị chó cắn sáng ngày tỉnh dậy đau đớn u sầu. Nghịch cảnh với thuận cảnh thật thiên hình vạn trạng, đối với việc khắc phục ác vận nhà triết học Nietzsche chủ trương sức mạnh của nghị lực (volonté de puissance) dũng cảm xông pha tạo thành con ngưòi siêu nhân. Nó cũng là triết lý lạc quan của hầu hết người phương Tây mà sau này ta thấy ở tác phẩm của Joseph Conrad, jack London, Hemingway...
Ngược lại với triết lý lạc quan siêu nhân ấy là tâm tư Kafka
Còn phương Đông thì không bao giờ quên cái lẽ tuỳ thời, thời hành tắc hành thời chỉ tắc chỉ. Khắc phục ác vận là tiến thoái tồn vong cho nó hợp với cảnh ngộ.
Tướng pháp đề ra hai cách:
- Xử thế thoái nhất bộ vi cao (xử thế lùi một bước là khôn)
- Thiên bạc ngã dĩ phúc, ngô hậu ngô đức dĩ bồi chi (trời làm phúc phận của ta, ta làm dày công đức để bù lại).
Suy ngẫm hai cách trên đây sẽ thấy cái triết lý nhân sinh của tướng mệnh học thật là thâm thuý vâỵ.
Thoái nhất bộ để tìm nguyên nhân thất bại rất cần thiết cho việc bầy keo khác.
Hậu ngô đức cốt để tranh thủ sự trợ lực của nhân tâm mà thực hiện phương châm lợi nhân tức là nền móng thực vững của lợi kỷ.
ác vận ở đâu đến ?
Để trả lời xin đọc một bài phú của Trần Hi Di:
Xét tâm thấy ngay kẻ thiện người ác
Nhìn hình có thể biết hoạ phúc
Ăn ở bất công con cháu vô lộc.
Ngôn ngữ phản phúc sẽ chết vì phản phúc
Len lét, dâu dấu loại gian tham
Phổi bò ruột ngựa chẳng đáng anh hào.
Tâm bình khí hoà con cháu tôn vinh
Tính chấp nhất thiên lệch thường gặp đại hoạ
Vô tình bội bạc dễ bần cùng luôn luôn nhớ gốc được nhiều dịp may
Trọng giầu khinh nghèo loại bất nhân
Kính già yêu trẻ tương lai tốt đẹp
Hay nói liều khó có tuổi thọ
Vong ân lại hay nhớ tiểu oán công danh nan thành
Đại phú đại quí không làm động tâm, phúc thọ vô cương.
Lừa dối, lừa gạt đời cho giầu sang cũng sớm tàn
Công bình chính trực chết làm thần
Mê hoa luyến tửu khổ vợ con
Chỉ biết lợi mình mà hại người, con cái bất hiếu, ngu si ăn nói cục cằn khinh bạc, suốt đời bần cùng.
Thông minh ngôn ngữ văn nhã thường dễ thông lọt trong lúc hoạn nạn biết tự thủ, chịu đọc sách có thể là trụ thạch triều đình.
Hà tiện, chịu khó sẽ tiểu phú tiểu quí nếu có đởm lượng. Sa xỉ, hoang tàn có thể là kỳ nhân nếu tài ba lỗi lạc.
Làm chậm mà chắc không vội vã người đáng tin cậy
Làm nhanh mà sáng suốt người tài cao tảo phát
Tri túc và tự mãn là hai thái độ khác nhau
Một kiêu căng nên tai hoạ, một khiêm nhường nên đắc phúc
Tài lớn với tài vặt không giống nhau
Một xông xáo hay thất bại, một ẩn trọng nên công thành
Quá cương việc thành nhưng dễ gặp hoạ, qúa nhu mọi sự khó thành nhưng sống yên ổn
ở chỗ vui mà lộ vẻ buồn nhất sinh tân khổ lúc đang giận mà cười là gian tà thủ đoạn.
Ưa khoe tài, khoe giỏi, lật đật đường công danh
Thích chê bai luôn luôn bị ghét
Chỉ trách người mà không trách mình là bạn tốt
Uốn ý mình cho việc đời được chu toàn, hậu vận hay. Cứ ý ta xông bừa bãi rồi sẽ gặp hung vong.
Mặt dễ biến sắc, bạc phước
Kiên trì, nhẫn nại, hanh thông
Mừng giận vô lối, nhất sự vô thành
Chửi chê không đâu, tri giao đoạn tuyệt
Giúp người nghèo, đỡ người hoạn, tuy bây giờ nghèo nhưng phúc ở trời giáng xuống.
Cam chịu bị người lừa dối, có con hốt nhiên đại phát
Thường nghĩ đến sự nhường một bước, cả đời an lạc
Hỷ nộ bất hình sắc thành danh còn lập đại công
Tuy nhiên kẻ đại gian cũng hỷ nộ bất bình hư sắc
Bị kiếm đâm dao chém bởi vì người quân tử qúa cương cường và kẻ tiêu nhân tự đắc
Reo mình xuống sông, thắt cỏ tự ải bởi vì con trai
Tài kém hiểm nguy, con gái khí thịnh mà bị áp bức
Tại sao đoản triết thân vong?
Tại nói điều bạc, làm điều bạc, lòng bội bạc sử sự bạc bẽo
Tại sao hung tai ác tử?
Vì dã tâm tư hành động lén lút.
Tại sao về già không có con nối dõi
Vì tính tình quái dị, cô độc.
Tại sao thành niên chôn con?
Vì tâm địa độc ác
Tại sao bị bệnh tật chết mau? vì sắc dục không hư
Tại sao được bái tướng phong hầu?
Vì hoài bão cai trí trùm thiên hạ
Tại sao được ở nhà ngọc cưỡi ngựa vàng?
Vì hành động thanh nhã, hình dung tú lệ.
Tại sao chỉ làm anh quèn
Vì khí tượng tầm thường, gan dạ nhỏ bé.
Hoạ phúc chẳng qua chỉ bởi người gọi đến, thiện báo ác báo như bóng theo hình, trồng đậu nên đậu trồng dưa thành dưa.
Phần hai
Nữ nhân và tướng mệnh
Thân phận con người dù nói sao thì nói cũng không thể thoát khỏi được bàn tay định mạng. Định mạng đối với người phụ nữ càng tỏ ra ảnh hưởng mãnh liệt của nó. Nếu không căn cứ vào triết lý của định mạng thì người ta không thể nào giải thích được hiện tượng Tây Thi, cô gái giặt lụa lại là người làm đảo điên chính trị Ngô Việt. Điêu Thuyền, một nàng tì thiếp có thể xoay lại thế chính trị hồi đầu Tam quốc.
Tại Trung Quốc, những người đàn bà nổi danh tài, sắc trong lịch sử chính trị cũng như trong truyền kỳ dân gian điển hình có tới hơn một trăm ngươì.
Xuất thân tế ca kỹ như Ngư Huyền Cơ, Ngọc Đường Xuân, Đỗ Hồng Nhi, Lý Hương Quân, Tiêu Phương Tiên..........
Xuất thân tì thiếp như Điêu Thuyền, Hồng Tuyến Nữ, Vương Triều Vân....
Xuất thân con nhà lương thiện như Thu Hồ Thê, Lục Châu, Vũ Tắc Thiên, Mai Phi...
Xuất thân danh giá vọng tộc như Sái Văn Cơ, Trác Văn Quân, Tô Tiểu Muội, Lâm Phương Trinh...
Xuất thân đạo sĩ như Đào Tam Xuân, Thu Cẩn ........
Xuất thân hoàng thất như Hoa Dương công chúa, Nga Hoàng Nữ Anh, Tức phu nhân, Thiên Kim công chúa............
Những người kể trên, mỗi người đều có một cuộc sống lạ lùng say mê, như trong tiểu thuyết, có thể vượt cả sức tưởng tượng của tiểu thuyết nữa. Tuy có điểm gần giống nhau là hồng nhan bạc mệnh, nhưng mỹ nhân cũng có muôn vàn sắc thái khác nhau để không cho nhân gian thấy tóc mình đã bạc.
Vợ vua Thuấn là bà Nữ Anh, vợ Thạch Sùng là nàng Lục Châu đã tự sát. Bị giết như Dương Quí Phi, Triệu Phi Yến, Trương Lệ Hoa, Yên Hậu. Phiêu bạt bèo mây thì có Tây Thi, Lâm Tứ Nương.
Đến như tâm lý thì mỗi người mỗi vẻ, biến hoá vô cùng, thật là lòng dạ đàn bà như chiếc kim dưới đáy biển, khó biết làm sao.
Có người anh dũng thuộc loại cân quắc tu mi như Hoa Mộc Lan, Lương Hồng Ngọc, Tôn phu nhân.
Có người u nhàn trinh thục ôn nhu, xứng đánh là hiền thê gương mẫu như bà Nga Hoàng Nữ Anh khóc chồng là vua Thuấn, lệ chảy thành vân trúc, nàng Mạnh Khương vạn dặm tìm chồng, biết tin chồng chết ở Vạn Lý trường thành, khóc lóc bi thảm làm sập một góc tường thành.
Vương Bảo Xuyên nhẫn nại với đói rét hơn hai mươi năm chờ chồng.
Có người phóng lãng, dâm đãng như Tề Văn Khương, Tây Thái Hậu, Phan Kim Liên, Trương Lệ Hoa.
Có người đa sầu, đa cảm như Lâm Đại Ngọc, Chu Thục Chân.
Có người đẹp mặt hoa đào mà lòng băng tuyết như Quan Miến Miến, Hoa Nhuỵ phu nhân.
Nữ nhân tâm, hải để châm, đến muôn đời đàn bà vẫn còn là bí ẩn đối với phái nam. Tuy nhiên, đó không phải là quan niệm của người đã nắm được bí quyết huyền diệu của tướng pháp.
Đời người đàn bà bất hạnh hay hữu hạnh, hoàn toàn phụ thuộc với tướng cách của người đó.
Vũ Tắc Thiên khi còn nằm trong nôi, cha mẹ quý mến như hòn ngọc, cho ăn mặc như con trai. Một vị danh sư về tướng số trông thấy mới than rằng:
- Nếu đứa trẻ này là con gái thì có thể lên ngôi cửu ngũ, rất tiếc.
Bất luận nam hay nữ, tạo hoá đều định đặt được cuộc đời mỗi người và đánh dấu cuộc đời mỗi người này ngay trên thân hình, mặt mũi.
Đàn bà chiếm một nửa nhân gian, đồng thời đàn bà cũng là nửa phần đời (better half ) của đàn ông. Theo Kinh Thánh dạy của Ki - tô giáo thì Thượng đế lấy chiếc xương sườn cụt của ông Ađam để mà tạo nên người đàn bà. Cái xương cụt đó là điểm rất tế nhị của Thượng đế. Ngài không lấy xương chân vì như vậy người đàn bà sẽ bị chà đạp. Chiếc xương sườn ở ngang thân vì như vậy được bình đẳng với đàn ông, chỉ ở dưới một chút thôi dưới bàn tay che chở và gần trái tim người đàn ông yêu quý. Đàn bà ảnh hưởng lớn đến đắng mày râu. Nàng có thể cho hắn:
- Táng tâm điên cuồng
- Xông vào chỗ chết hoặc khuynh gia bại sản
- Cung cúc tận tuỵ hoặc cho hắn thành thân trâu ngựa
- Quỳ mọp dưới chân hoặc cho hắn triều khí bột bột, kiên cường phấn đấu, hoặc cho hắn công thành danh toại, hoặc cho hắn thân bại danh liệt.
Sức mạnh của ảnh hưởng đó làm thành một mê lộ vòng vèo bao bọc chung quanh đàn ông.
Các nhà văn, các triết gia đã từng suy nghĩ để tìm cách thoát khỏi mê lộ này nhưng tất cả đều thất bại cho nên Michelet phải thú nhận: Je ne puis me passer de Dieu, la femme est une religon, la femme est un autel ( Tôi không thể vượt được Thượng đế, đàn bà là một thứ tôn giáo, một bàn thờ ).
Và Goethe chỉ có thể nói được rằng:
- CÕest ce perpétuel idéal. (đàn bà là lý tưởng bất diệt). ở Trung Quốc ngay từ đời cổ sơ, người đàn bà đã lộng hành ghê gớm lắm.
Liền một hơi, ba triều đại Hạ, Thương, Chu dã vì đàn bà mà vong quốc.
Nhà Hạ mất vì nàng Muội Hỷ
Nhà Thương diệt vì nàng Đát Kỷ
Nhà Chu tàn vì nàng Bao Tự
Bởi vậy, cái nhu cầu thoát khỏi mê lộ của nữ nhân lại càng cấp bách.
Họ đã đi tìm phương pháp để chế phục sức mạnh của đàn bà, đặt ra triết luận nam tôn, nữ ti, nam cương, nữ nhu. Nhu tất phải thuận tòng, tòng phụ, tòng phu, tòng tử. Họ tìm ra thuật phát hiện trước những cái hoạ mà người đàn bà mang trong người có hại cho đàn ông, hoặc những cái hay tốt có lợi cho chồng con.
Thuật ấy là tướng pháp cho nữ nhân vậy. Tây phương hoàn toàn không có thuật này, mãi đến cuối thế kỷ 19 mới xuất hiện khoa phân tâm học để tìm hiểu tâm trạng nữ phái qua tướng thuật, tất cả những ảnh hưởng lợi hay hại của phụ nữ cho bản thân họ hay cho nam phái không còn là một mê lộ nữa.
Sách tướng viết:
Lục châu thân truỵ lâu tiền
Khả hận ấy đường nhất hãm, nhãn lệ uông uông.
Vào năm 310 Tây lịch, có người con gái họ Lương ở vùng Quảng Tây, huyện Bạch Nhân, nơi sản xuất ra những ngọc trai quí. Tên nàng là Lục Châu mỹ nhân, nổi danh tài sắc đời Tấn. Cái tên Lục Châu do khách thương đi buôn ngọc đặt cho nàng bởi vì nàng đẹp như ngọc.
Đại phú thương Thạch Sùng yêu Lục Châu nên đã mua được nàng với giá ba đấu ngọc về làm thiếp. Nơi của Thạch Sùng ở gọi là Kim Cốc Viên, có hàng trăm mỹ nữ. Đến khi Lục Châu về, nàng sáng chói lọi, các nàng khác như những ánh lửa tàn.
Thạch Sùng là con người giao du quảng bác, tiền bạc sánh ngang với ngân quỹ quốc gia. Về mặt văn học Thạch Sùng lại cũng rất cao thâm.
Hàng đêm, tại Kim Cố Viên, các quan triều Đường, các bậc văn tài thường tụ họp nghe ca hát, uống rượu, ngâm thơ.
Từ ngày có sự hiện diện của Lục Châu thì các cuộc vui thêm mười phần thích thú.
Lục Châu giỏi thổi ống tiêu, gẩy đàn thật tuyệt diệu. Trong số tân khách hay lui tới có Tôn Tú, người rất thân tín của Triệu vương Mã Luân. Triệu vương đang mưu đồ phản nghịch nên nhờ Thạch Sùng giúp một tay. Thạch Sùng thoái thác nên Triệu vương để tâm thù.
Tôn Tú say mê Lục Châu nên tìm mọi cách hại Thạch Sùng nếu Thạch Sùng không gả Lục Châu cho hắn.
Thạch Sùng khảng khái từ chối lời yêu cầu của Tôn Tú. Ông chấp nhận mình có thể bị nhà tan cửa nát nhưng không chấp nhận phải xa Lục Châu.
Một đêm kia, Triệu vương sai Tôn Tú đem đại binh vây Kim Cốc Viên bắt Thạch Sùng.
Lúc ấy Thạch Sùng và Lục Châu đang ngồi uống rượu trên lầu. Quân của Triệu vương xông vào bắt được cả hai. Thạch Sùng bị lôi ra chém tức khắc. Còn Lục Châu gieo mình tế trên lầu cao xuống đất tự sát.
Cảm thương với thảm kịch Kim Cốc Viên, thi sĩ Đỗ Mục đời Đường đã có bài thơ :
Phồn hoa sự tán trục hương trần
Lưu thuỷ vô tình thảo tự xuân
Nhạt mộ hương phóng oán đề điểu
Lạc hoa do tự truỵ lân nhân
Nghĩa là: Kim Cốc Viên ngày nay, cảnh phồn hoa đâu mất cả, chỉ còn lại hoang tàn, tro bụi. Nước vẫn chảy đi vô tình, cỏ vẫn xanh mướt mùa xuân. Buổi chiều đến, gió đông thổi nghe tiếng chim kêu buồn bã. Hoa trên cành rơi xuống như người đệp ngày xưa gieo mình.
Thi sĩ nhìn Kim Cốc Viên như thế. Tướng pháp chỉ hạ hai câu phú:
Nàng Lục Châu rơi từ trên lầu xuống
Chỉ tại ấn đường có hai chân mày giao nhau
Và mắt lúc nào cũng ướt buồn
Dương Quí Phi hay Dương Thái Chân, một đại mỹ nhân của Đường triều. Thuở nhỏ, bẩy tuổi bố chết, nàng phải ở nhà người chú. Năm 17 tuổi được tuyển vào làm phi tần cho vua Đường Huyền Tôn.
Âm thầm trong cung 6 năm, nhờ tên thái giám Cao Lực Sỹ phát hiện ra sắc đẹp mê hồn của nàng đem dâng lên vua Đường Huyền Tôn.
Từ đấy nàng thoát khỏi tình trạng:
Thâm cung lạnh ngắt như tờ
Cửa châu gió lọt, rèm ngà sương treo.
Dương Thái Chân lên ngôi quí phi thì nàng sủng phi trước đây là Mai Phi bị hoàn toàn thất sủng.
Dương Quý Phi với vẻ đẹp nhễ nhại, nõn nà đã làm đảo lộn hẳn quan niệm về sắc đẹp và văn học đời Đường và ảnh hưởng tới phong tục tập qúan xã hội.
Trước kia, người đàn bà phải vóc liễu, mình mai mới là tuyệt sắc. Nay, giai nhân như đoá Hải đường, Mẫu đơn, có da, có thịt. Nhà thơ Lý Bạch có nhiều thơ ca ngợi Dương Quí Phi.
Bước thêm bước nữa, Dương Quý Phi sử dụng sắc đẹp của mình để ảnh hưởng vào chính trị bằng cách đem anh là Dương Quốc Trung vào nắm hết quân lính. Dương Quý Phi là người đàn bà cực dâm dật khiến cho Đường Huyền Tông không còn lúc nào mở mắt được với cái dâm dật đó, cho nên việc triều đình phó mặc cho anh em Dương Quý Phi mặc tình làm mưa làm gió.
Dân chúng ai oán, các quan trong triều chán nản gây thành loạn An Lộc Sơn. Lộc Sơn cũng là người mê đắn sắc đẹp của Dương Thái Chân. Hắn gây loạn quân về kinh đô để cướp trang giai nhân tuyệt sắc. Lúc An Lộc Sơn vây Tràng An, Đường Huyền Tôn mang Dương Quý Phi chạy, đến Mã Ngôi Pha quân sỹ đứng lại không chịu tiến nữa. Đường Huyền Tôn phải hạ lệnh chém Dương Quốc Trung để tạ lỗi với thiên hạ, quân đội vẫn không chịu và đòi giết Dương Quý Phi. Cuối cùng, Đường Huyền Tôn phải khóc mà trao người yêu giải lụa trắng để nàng tự vẫn.
Thảm kịch Mã Ngôi Pha tạo thành một tác phẩm văn học bất hủ, bài đường sướng hận ca của Bạch Cư Dị.
Sao mà cái cảnh:
Thiên trường địa cửu hữu thời tận
Thử hận miên miên vô tuyệt kỳ
Sách tướng trả lời:
Dương Quý Phi hiếu sắc đoản mệnh
Vì mắt lộ quang thiền.
Thời Hán Tuyên Đế có Vương Chiêu Quân bị tuyển nhập vào cung. Nàng thông tuệ và đẹp. Thời ấy, mỗi lần hoàng cung muốn vời phi tần thường trông tranh, hễ ai đẹp thì gọi. Cho nên các phi tần đua nhau hối lộ hoạ công, nhờ thêm thắt cho nhan sắc thêm kiều diễm hơn để được ân sủng. Chỉ có Vương Quân không chịu hối lộ, bởi vậy đã hai năm ở trong cung mà vẫn:
Hoa này bướm nỡ thờ ơ
Để gầy bông thắm, để sơ nhuỵ vàng
Cũng chẳng một lần nào được trông thấy nặt vua.
Lúc giặc Hung Nô cầm đầu bởi Đan Vu, có ý đe doạ Hán triều. Vua Hán không muốn gây can qua nên thi hành chính sách ngoại giao mềm mỏng. Để lấy lòng Đan Vu, Hán Nguyên Đế sai chọn trong cung cấm một mỹ nữ đem cho Đan Vu. Vương Chiêu Quân là người bị tuyển chọn.
Khi lên từ biệt Hán Nguyên Đế thì vua ngẩn ngơ với sắc đẹp tuyệt vời của nàng. Nhưng muộn mất rồi vì không thể thất tín với Đan Vu được.
ở ngôi hoàng hậu bên cạnh Đan Vu, Vương Chiêu Quân sinh được một trai, hai gái.
Khốn nỗi, lòng sầu nhớ nước của Chiêu Quân không lúc nào khuây khoả, chẳng bao lâu nàng mang bệnh nặng rồi chết.
Chết rồi, trên mộ nàng, theo truyền thuyết thường thấy luôn luôn có tụ những đám mây buồn và sương lạnh vào những sáng sớm hoặc buổi chiều tàn.
Tại sao nàng phải chịu một nấm mồ xanh với sầu vân oán vũ như thế ?
Sách tướng giải:
Vương Chiêu Quân Bắc Phiên thân vẫn
Khẩu tiểu, ngách ám nha tiêm
Nghĩa là: Sở dĩ nàng Chiêu Quân chết bên rợ Phiên vì nàng miệng quá nhỏ, trán ám và răng nhọn.
Luận về hồng nhan bạc mệnh
Chuyện Lục Châu, chuyện Dương Quý Phi và chuyện Vương Chiêu Quân tất cả đều phảng phất một không khí hồng nhan bạc mệnh.
Không phải chỉ riêng ba người ấu, lịch sử Trung Quốc có ghi lại hơn một trăm người đàn bà lếng danh tài, sắc thì tới bẩy phần mười bạc mênh, tỉ như: Vương Thuý Kiều, Triệu Phi Yến, Thu Hồ Thê Nữ Anh, Yên Hậu, mai Phi, Đào Hoa Nữ, Ngọc Đường Xuân, Vương Triều Vân, Chu Thục Chân, Hương Phi, Thu Cẩn, Tần Lương Ngọc......
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung, đối với số mệnh hồng nhan thật không sai. Bạc mệnh là số phận mong manh.
Phận hồng nhan có mong manh
Nửa chừng xuân thoắt gẫy cành thiên hương.
Bạc mệnh cho số kiếp hồng nhan có nhiều hiện tượng khác nhau:
a, Chết rất sớm ( bị bệnh chết, tao loạn mà chết hay tự sát mà chết )
b, Sự nghiệp không lâu bền ( vì chồng chết như Ngọc Hân công chúa, bà Hamilton, Katia, Jacqueline Kennedy...... ).
c, Phiêu bạt giang hồ làm ca kỹ, lẽ mọn, nghĩa là không phải chỉ có nửa chừng xuân gẫy cành thiên hương mà thôi.
Hồng nhan là người đàn bà trời ban cho sắc đẹp diễm lệ đi đôi với tâm hồn mẩn tiệp tài hoa khiến cho nam phái phải mê mệt.
Còn những người đàn bà xấu thì chẳng có gì đáng kể, làm gì có sóng gió nổi lên mà phận mong manh. Riêng những người đàn bà xấu nhưng tướng tốt thì một đời sung sướng, ở đâu ra bạc mệnh.
Vậy thì hồng nhan bạc mệnh ta có thể khẳng định là số phận gian truân của giai nhân
Qua kinh nghiệm của ngàn xưa, người đàn bà tuyệt sắc mà có cuộc đời hạnh phúc viên mãn rất hiếm.
Tướng pháp có nói đẹp là dấu hiệu của hồng nhan bạc mệnh.
Lấy con mắt xã hội học mà nhìn thì sức mạnh của nhan sắc và sức mạnh của tài hoa như một ngọn lửa nung đúc tâm can người đàn bà. Sắc đẹp ấy, tài hoa ấy tất nhiên là không chịu đi vào con đường an lành buồn chán mà chạy sang nẻo phong ba chìm nổi và khinh bạc.
Truyện tiểu thuyết "Bà Bovary" mà Gustave Flaubert phỏng theo đời thật của Delphine Delamare là một điển hình. Hồ Xuân Hương, Geore Sand là những chứng cớ.
Thân em thì trắng, phận em tròn
Ba chìm bẩy nổi với nước non.
Một lẽ nữa, giai nhân tuyệt sắc thường là mục tiêu chú ý của nhiều người. Có nhiều người chú ý tất nhiên phải có tranh đoạt. Do sự tranh đoạt ấy mà thân phận hồng nhan mới phiêu bồng chìm nổi. Thân thế nàng Angélique, nhân vật tiểu thuyết của Serge Golon là một sự thật nếu ta đem so với cuộc đời của Messaline, của Mata Hari, của Castiglione, của Vitoria Woodhull....
Hồng nhan bạc mệnh thường thấy nhiều trong những buổi tao loạn nhiễu nhương. Vì đổi thay, bất trắc tạo thành cơ hội cho hồng nhan phải xuất diện. Đồng thời, lúc tao loạn nhiễu nhương lại có lắm anh hùng hào kiệt. Trong lịch sử, hiện tượng hồng nhan đi song đôi với nhau luôn luôn.
Bao giờ mười vạn tinh binh
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường
Làm cho rõ mặt phi thường
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.
Kiều sở gặp được Từ Hải thì căn nguyên cũng bởi nàng đẹp. Có đẹp làn thu thủy, nét xuân sơn thì mới bán mình được chứ. Nếu xấu thì ai mua? Vậy thì đẹp và tài hoa chính là đầu mối của số kiếp bạc mệnh. Nói thế không có nghĩa là đàn bà cứ nên xấu như ma lem để cho đỡ khổ. Tướng pháp lập ra để đi tìm cái đẹp chứ không phải cổ lệ cho cái xấu. Có điều đẹp tướng khác đẹp người. Nếu đẹp người mà xấu tướng thì thà bớt đẹp người đi để đẹp tướng còn hơn. Còn như đàn bà xấu quá thì là loại nô tì ngu độn.
Đẹp cả người lẫn đẹp cả tướng mới thật là đẹp theo quan niệm của tướng học, lẽ đương nhiên cái nhân gian phàm tục này đâu có nhiều hoàng hậu Ba tư, Farah Dibah cả tướng lẫn sắc đều hoàn toàn. Đẹp nói cho đúng chỉ là động lực đẩy mạnh người đàn bà đến bạc mệnhvì người đàn bà ấy mang một tướng khuyết hãm về hông nhan rồi, đàn bà xấu thì cái xấu là để thắng, loại bớt hoàn cảnh bạc mệnh do khuyết hãm trên tướng cách gây nên. Không phải người đàn bà xấu là không bạc mệnh. Như đã biết, mắt thầy tướng với mắt thế tục nhìn cái đẹp rất khác nhau. Đã đành tục hay tướng thì cái đẹp để thưởng thức đều mang cùng quan điểm. Nhưng nếu là xem tướng thì tướng nhãn và tục nhãn phải xung đột.
Ngắm mỹ nhân, tướng và tục đều công nhận vẻ "trắng nõn như bông", "yểu điệu" là đẹp. Nhưng tục nhãn ngưng ở đây, còn tướng nhãn quan niệm khác hẳn.
Sự việc xảy ra xung quanh ta hàng ngày, ai không thấy rằng các bà vợ ở vị chánh thất thường xấu và các bà vợ trẻ ở vị thiếp hầu thường đẹp. Cho nên các cụ ngày xưa đã nói:
- Thú thê thủ đức, thú thiếp thủ sắc ( lấy vợ tìm đức, lấy thiếp tìm sắc )
Số tướng "hồng nhan bạc mệnh" và "hồng nhan khuyết đức" vẫn đẩy người đàn bà vào kiếp lẽ mọn hay ca kỹ. Mà lạ, người mang tướng số "hồng nhan" phần lớn đều có cái đẹp về sắc.
Thêm nữa, ca kỹ và lẽ mọn đi cặp với nhau rất biện chứng. Trước phải có ca kỹ tức là chị em liễu nhõ hoa tường thì sau mới nảy sinh ra việc tìm hoa hỏi liễu để đưa đến câu truyện lấy cô đầu, con hát làm thiếp. Tướng ca kỹ rơi vào nghề ca kỹ để chuyển thành thân phận thiếp hầu, bởi vì ca kỹ phải cần sắc cho đẹp. Phần anh đàn ông đi tìm thiếp ắt phải lấy chữ sắc làm điều kiện. Kết quả, cái đẹp về sắc hay dẫn đến "tiện cách" trong tướng số.
Do đó, sách tướng mới khẳng định rằng sắc đẹp phần lớn là tiện tướng chứ không phải là qúy tướng. Điều này chẳng phải là điều cổ giả đâu. Ngay hiện tại, nếu nhìn vào thế giới điện ảnh, thế giới của minh tinh ca vũ người ta sẽ tìm thấy vô khối tướng hồng nhan bạc mệnh, phong trần khuyết đức, bạc mệnh trên mặt nhưng vẻ đẹp mê hồn. Sung sướng thì có sung sướng, nhưng trong lòng chất chứa biết bao buồn tủi. Hãy đọc báo chí nói về Elizabeth Taylor với những mối tình tan vỡ, với những xì căng đan, nói về Brigitte Bardot đã có lần tự tử, nói về Marilyn Monroc, nói về Lâm Đại, nói về Greta Garbo, nói về Gail Russen...
Ngược hẳn lại, những người vợ chính thất, những bà nhất phẩm phu nhân đại đa số không phải là các nữ nhân mạng "sắc tướng mỹ". Căn cứ vào sách tướng lý thì cái đẹp thường thường là xấu về nhan sắc. Trở về câu truyện bữa trước, các thầy họp nhau đi xem tướng các "bà" trong dạ hội tại tư thất của Ngô Bội Thu. Sau khi xem thấy ở đây toàn là những ca kỹ xuất thân, họ lấy làm lạ tư hỏi: " Thế còn những bà vợ chính thất đâu ? " Đây nhất định không phải các bà chính thất. Họ liền đem câu hỏi ấy đến người nhầ thân cận của Ngô Bội Thu nhờ giải thích lý do. Bà họ Trương thấy họ thắc mắc điều này thì cười lên như nắc nẻ mà nói:
- ở đây toàn bà đẹp, còn một lô bà xấu ở trên kia kìa.
Bà họ Trương chỉ tay vào mấy gian nhà rộng lớn trên có đề mấy chữ "Phu nhân sảnh".
Thì ra đây mới là nơi cao quí nhất trong nhà. Ngô Bội phu nhân vốn rất coi trọng địa vị chánh thất của các phu nhân nên dành riêng mấy gian nhà lớn để tiếp đãi. Phàm những người xuất thân ca kỹ hoặc thuộc phận lẽ mọn, thiếp hầu không được vào đây.
Đàm tiên sinh đưa mắt một lượt nơi rtụ tập chưng hơn hai mươi bà đang đánh bài. Lạ thay, quá nửa trông rất cũ kỹ, không đẹp nhưng tướng mạo của người nào người ấy đều "đoan trang", "nhân tĩnh", "minh mị",. Trên mặt tuyệt nhiên không có dấu vết của truỵ lạc phong trần. Hết thây đều là "kết phát phu nhân" ( Suốt đời không trăng hoa, lắm chồng ). Dáng dấp không tị hào cái vẻ "xuất tướng hồng hạnh" hay "tì bà biệt điệu". Tính tất cả gồm 24 bà, chia làm hai loại: loại danh phận cao nhưng nhan sắc xấu, loại vừa phải nhưng nhan sắc dễ ưa.
Có điều thú vị là đa số bà bộ trưởng, tỉnh trưởng, quận trưởng đều thuộc lớp người đồng ruộng một chữ không biết nhưng đều mang tướng cách cao quí.
Thế mới phục, sách tướng đã dạy rằng:
- Tướng mạo đàn bà đáng sợ là cách "mỹ trung hữu xú". Trái lại, "xú trung hữu mỹ" mới thật là qúi tướng. Cách tốt thứ nhì là kiên trung ôn nhu. Cách tốt thứ ba là khí đọ và tài tình. Còn cái đẹp bề ngoài càng đẹp bao nhiêu, càng hạ cách bấy nhiêu.
Có lẽ trên điểm này, Jean Jacques Rousseau nói rõ hơn trong bài Faillite de la beauté. Ơ đó Rousseau yêu một người đàn bà hết sức thiên nhiên mà ông gọi là "Femme naturelle". Người đàn bà ấy có một tâm hồn dễ chịu tuy không sáng chói, một tinh thần vững mạnh tuy không cần xâu xa và ông kêt luận: Người đàn bà thiên nhiên thật là lý tưởng vì họ làm cho đàn ông hạnh phúc một cách thiên nhiên không cầu kỳ, giả tạo, phiền toái.
Với Rousscau, ông không thích những người đàn bà bốc lửa ( L’idéal pot au feu ).
Rousseau rất gần nguyên tắc tướng học về phụ nữ của Phương Đông. Đời nhà Hán có nàng Triệu Phi Yến, cha nàng là một nhạc sỹ nổi tiếng đương thời. Cha mất, chị em nàng được một nhà họ Triệu nuôi nấng. Triệu Phi Yến càng lớn càng đẹp, thân hình kiều diễm nhẹ như mây bay lại giỏi ca vũ, chuốc rượu nên Phú Bình Hầu yêu lắm, nhân bữa đại yến trong cung, Trương Phóng đem chị em Triệu Phi Yến vào ca múa. Vua Hán Thành Đế gặp Phi Yến mê không muốn rời nên ngỏ ý bảo Trương Phóng để hai nàng ở lại trong cung. Từ ngày có hai chị em họ Triệu, vua Hán chẳng bao giờ ngó ngàng đến các cung phi khác. Cả đến hoàng hậu cũng phế bỏ luôn để đặt Triệu Phi Yến lên ngôi chính cung.
Tuy là vóc liễu mình mai đấy nhưng Phi Yến có một khả năng tình dục phi thường. Dĩ nhiên Hán Thành Đế không thể thoã mãn nổi. Phi Yến mới tư thông với tên thị vệ. Việc bị phát giác. Nhờ em là Triệu Hợp Đức khóc lóc xin cho nên Phi Yến chỉ bị phán quyết cho vào lãnh cung.
Phần em nàng là Hợp Đức thì ngày đêm đẩy vua Thành Đế vào biển sắc dục đến nỗi ông kiệt sức mà băng hà. Khi ông chết rồi, Hợp Đúc cũng chán sống uống thuốc độc mà chết luôn.
Còn Triệu Phi Yến, đến đời vua Hán Bình Đế thì bị giáng xuống làm thứ dân, đuổi ra khỏi cung, nàng liền đi theo Vương Mãng làm loạn và làm vật hy sinh cho Vương Mãng đến phải đâm cổ mà chết. Loại đàn bà bốc lửa thường gặp những cảnh ngộ thê thảm. Lửa đây là lửa dâm và lửa tham vọng đều thuộc tính chất đàn bà khuyết đức.
Cũng một sự tích xưa của Tần kể rằng:
Tại kinh đô Trường An người ta thấy xuất hiện một thiếu nữ ăn mặc rách rưới, tay mang cây đàn tỳ bà rất quý, vừa đàn vừa hát để xin tiền. Tên cô bé là Hồng Hồng, quê quán ở đâu, lý lịch thế nào không ai biết. Chỉ biết rằng nàng hát thật hay và không bao giờ chịu bán cây đàn quý giá dù có người đã trả giá rất cao.
Hồng Hồng không kêu nài van xin, nàng hát xong ai muốn cho tuỳ ý. Đi hát như vậy từ lúc lên 4 hay 5 tuổi, có một vị tiến sĩ tên là Vị Thanh hỏi Hồng Hồng về gia thế, nàng lãnh đạm cự tuyệt không chịu nói.
Vị Thanh cũng là ngươì giỏi coi tướng thấy Hồng Hồng mang trong người khí độ cao ngạo như đoá lan rừng mọc chót vót ở trên cây u ẩn, cô phương tự thưởng ( tự mình thưởng thức hương tơm cô độc ). Vóc dáng nàng như mai liễu gió thổi bay thuộc loại bạc phận nhưng lại rất thanh tú không đến nỗi phải chịu đói khát, lê la như vậy.
Vị Thanh lúc nào cũng ân cần với Hồng Hồng, lâu dần nàng cũng không lãnh đạm với Vị Thanh Nữa. Vị Thanh tìm mọi cách để cải thiện cuộc sống của nàng và hai người trở thành đôi bạn. Hồng Hồng mới thổ lộ tông tích nàng vốn con nhà sĩ tộc vì gia nạn nên mới luân lạc.
Nhờ Vị Thanh, Hồng Hồng được giới thiệu trình diễn ở những xã hội cao quí, danh tiếng nàng mỗi ngày mỗi vang lừng.
Trong khi ấy thì Vị Thanh âm thầm yêu nàng, chàng soạn nhiều khúc ca tuyệt tác cho Hồng Hồng. Văn chương tiến sĩ hợp với giọng ca thiên phú biến Hồng Hồng thành một tác phẩm tuyệt vời.
Thấy bao nhiêu vương tôn công tử và kẻ quyền thế say đắm mình, Hồng Hồng lo sợ vì nàng chỉ yêu Vị Thanh nên nàng đánh bạo ngỏ ý muốn làm vợ Vị Thanh. Vị Thanh tiếc cái tài của Hồng Hồng nên muốn nàng cứ sống cho âm nhạc thêm vài năm nữa rồi lấy nhau cũng chẳng muộn. Ngờ đâu, danh tiếng của Hồng Hồng lọt vào tai Bảo Lịch Hoàng đế, ông vua mới kế vị rất trẻ tuổi, cũng rất mê sắc đẹp, tiếng ca.
Bảo lịch Hoàng đế gặp mặt Hồng Hồng mê ngay nên cho lệnh đưa ngay nàng vào cung, phong cho nàng chức Khúc Nương ( người trông coi ca khúc ), nàng chẳng hy vọng bao giờ về với Vị Thanh nữa. Thời gian trôi đi buồn thảm, tấm lòng tương tư của Hồng Hồng với Vị Thanh khiến nàng héo hắt thành bệnh.
Vua cho uống thuốc, nàng lén đổ đi. Để rồi đến một bữa xuân yến, Hồng Hồng gục xuống chết khi bài ca mới được nửa chừng, kết thúc một kiếp hồng nhan bạc mệnh.
Nữ mệnh, nữ tướng, tối kỵ đới hào hoa
Theo lời kể của nhà tướng số danh tiếng Nghiên Nông cư sĩ thì hơn 30 năm tại Trung Quốc, ông đã xem không biết bao nhiêu tướng số của phụ nữ thì ông nhận thấy rằng lá số nào mà có dính dấp đến đào hoa thì không tốt, sớm hay muộn rồi cũng gặp những điều bất hạnh. Ông khẳng định lời nói của cổ nhân: nữ nhân tối kỵ đới đào hoa là trăm phần trăm chính xác.
Những phụ nữ dâm đãng, đám ca nhi, bọn con gái của vũ trường, những bà thiếp hầu bị bỏ rơi hoặc những giai nhân danh tiếng vì sự phiền não của tình duyênmà tự sát hoặc bị giết hoặc bị huỷ hoạn thân thể, nhan sắc. Hết thảy trên lá số hay trên tướng mạo dều có đào hoa sát, hồng diện sát.
Cách đây 40 năm, tại một xóm yêu hoa ở Quảng Châu có nàng Kim Kiều mà ở Trung Quốc chẳng ai không biết tiếng và những công tử ấy có tới 90 phần trăm đã từng viếng ngôi mộ nàng ở Quảng Châu.
Kim Kiều thật xứng đáng là đoá hoa tuyệt sắc. Người nào cũng chỉ nhớ hai chữ Kim Kiều mà chẳng cần biết tên họ thật của nàng như thế nào. Nàng có đôi mi cong vút, mắt đẹp và đa tình, má đào, da trắng. Tuy là kỹ nữ nhưng tướng mạo ngay ngắn, diễm lệ, chỉ có một điều ai trông thấy nàng cũng mê vì có đào hoa diện.
Đã biết bao đại quan, quý nhân và vương tôn công tử đã bị nàng làm cho điên đảo, chỉ nguyện một điều là được làm thần dân dưới bóng hồng quần.
Họ ném tiền qua phòng nàng như rác. Tối tối yến tiệc và sênh ca thâu đêm suốt sáng.
Không ai ngờ một đêm kia hoả hoạn sảy ra, Kim Kiều không chạy thoát, chết trong đống lửa với tất cả tiền bạc, tư trang nàng dành dụm.
Tin nàng chết lan truyền khắp Trung Hoa, các người yêu của nàng từ khắp nơi đều đổ về Quảng Châu. Người ta bới trong đống lửa nắm xương tàn của Kim Kiều mang chôn và xây cất cho nàng một ngôi mộ tráng lệ. Cổng vào mộ có đôi câu đối đè:
Bôi thổ hương hồn, vân sự sai đồng Tô Tiểu mộ
Nhất chiên tàn chiếu, thanh du bất giảm hương tà.
Sau đó còn có người sáng tác kịch về nàng, tỉ dụ như vở Tế Kim Kiều ( cũng giống như sự tích Mồ cô Phượng bên ta vậy )
ất là hoa thảo chi mộc, sinh vào mùa đông giá buốt mà trong tứ trụ lại vây bọc nhiều kim khắc cho nên thân thể phải phiêu linh lưu thuỷ lạc hoa ( nước chảy hoa trôi ).
Tài bạch tinh quá lộ gặp kiếp, bởi vậy y lộc chẳng qua như áng mây bay. Quan tinh là phu quân lại không thấy hiện tất là phải chịu phòng không.
Tứ trụ trùng điệp quý nhân, quý nhân vây bọc số đàn bà là số làm điếm, đây cũng là một cách đới đào hoa.
Cuối cùng là sát trọng thân khinh, chết thảm là vì vậy.
Cái lý đào hoa trên là số như vậy.
Còn đào hoa tướng thế nào ?
Đào hoa thực ra là một cái tên mà cổ nhân mượn hoa đào để làm nghĩa tượng trưng cho cái gí thuộc tình duyên.
Về số lý đào hoa có tốt, có xấu, nhưng chỉ tốt cho số đàn ông thôi, đàn ông vận đào hoa thường đi đôi với tài vận. Còn đàn bà, cả số lẫn tướng mà có đào hoa đều không hay vì tính chất của đào hoa là hữu sắc nhi vô hương. Riêng phần lý, ta hãy lấy hai câu trong Cung Oán ngâm khúc:
áng đào kiểm đâm bông não chúng
Khoé thu ba rợn sóng khuynh thành
áng đào kiểm là chỉ đào hoa diện
Khoé thu ba là chỉ đào hoa nhãn.
Cổ nhân dùng hình tượng hoa đào để nói vẻ đẹp lồ lộ dễ lôi cuốn người khác phái.
Đi vào tướng lý hoa đào là cái đẹp chứa chất nhiều phong lưu mị thái khiến cho người mới gặp lần đầu đã vui thích thèm muốn nhất kiến khả hỉ.
Nói thế chắc có người cãi lại, gặp gái nào ai chả muốn ôm, cứ gì phải đào hoa diện với đào hoa nhãn.
Lý luận trên thiếu suy xét về tướng lý nên có phần nông cạn. Chẳng phải tìm đâu xa. Chúng ta hãy đem so sánh Marilyn Monroc cùng Deborah Kerr thì Marilyn trông nhiều phong lưu mị thái hơn và Deborah đoan trang hơn.
Trong đời, người ta thường ôm ẩu Marilyn chứ không Deborah.
Hãy so sánh Brigitte Bardot và cô đào Hussey đóng vai Juliette trong Roméo et Juliette thì Brigitte khả hỷ còn Hussey lại khả ái. Với Brigitte người ta cần xem nàng cởi truồng còn với Hussey người ta không ai nghĩ tới đòi hỏi điều ấy.
Nếu lại đem Brigitte Bardot so với Marilyn Monroc thì Brigitte tự nhiên thanh khiết hơn, mắt, dáng người, điệu bộ của Brigitte không thể đĩ thoã hơn Marilyn Monroc.
Tướng đới hoa đào tuyệt nhiên không mang nghĩa ti tiện hay dâm tiện.
Ti tiện hay không còn phải tuỳ những bộ vị khác phối hợp.
Sách "Nhân luận đại thống" có câu:
- Kiềm bạc xích nhi tiểu tiết
Kiềm là mí mắt mỏng, có ánh hồng hồng, số gái đào hoa. Cũng theo số lý mà phân ra: đào hoa sát, đào hoa kiếp và đào hoa diện.
Đào hoa sát là mí mắt ấy đi đôi với mắt có hung quang lồ lộ, có thể bị đâm chém vì tình duyên hoặc tự sát vì tình.
Đào hoa kiếp là mí mắt ấy đi đôi với mắt thật buồn có thể bị lênh đênh chìm nổi hoăc ô danh vì tình.
Đào hoa diện là mí mắt ấy đi đôi với mắt vui tươi, hoạt bát thuộc loại đàn bà thiếu tiết, không giữ gìn, không coi tình yêu là thiêng liêng.
Cũng nên cần phân biệt điều này:
Tướng đới đào hoa khác với vận đào hoa.
Vận đào hoa cho con trai cũng như con gái là quãng thời gian kết tóc với người trăm năm. Người đàn bà có tướng tốt thì khi gặp vận đào hoa mới hay. Người đàn bà có tướng đới đào hoa mà gặp vận đào hoa là lúc bắt đầu cuộc đời sóng gió.
Tướng cách phụ nữ với vận đới đào hoa tốt xấu ra sao ?
Tướng học gia Nhật Bản Điền Khẩu Nhị Châu có những nhận xét sau đây:
- Đàn bà thuộc loại da huyết thì đôi má ửng hồng tròn trịa, đầu lớn, mắt và lỗ mũi nở nang, cổ dầy, thân thể mập, thuỳ châu mọng, da thịt đầy đặn, mịn màng. Có điểm đáng chú ý là phần trên thân nảy nở hơn phần dưới. Vì huyết dịch lưu lên trên nên thường nhức đầu hoa mắt hay đỏ mặt. Ngoại quan như vậy là người tính tình dễ xúc động, tham muốn dục át cả lý trí và tình dục sớm bị kích động.
Người này thuộc loại gái bà, nghĩa là tuy con gái nhưng đã nếm đủ tình yêu xác thịt.
Đàn bà nõn nà bụ bẫm, mình trắm thật dầy, má trắng ngần, thân thể nhu nhuyễn, nghĩa là có một lớp mỡ dầy dưới da, khiến cho thịt sáng sủa, mịn màng, tính tình nũng nịu dễ khiến đàn ông mê mệt. Loại này ái tình phi thường, nồng hậu.
Đàn bà gân cốt gầy, mặt thâm, chân tay dài, da ngăm đen, xương lộ thì ý chí mạnh hơn tình dục, nhiều nhẫn nại. Loại này thường làm việc giỏi, tháo vát nhưng ít đem lại vui thú cho tình yêu.
Nữ nhân thuộc thần hình chất thì mặt trên nở, dưới hóp, trán rộng, cằm thuôn, da trắng xanh, thân thể mảnh dẻ, cảm tính rất nhạy. Loại này rất lý tưởng, rất say dắm, có thể là người băng giá ( frigide ), sống với ảo tưởng hay lý tưởng tôn giáo, hay ngược lại rất bỏng cháy với lửa tình. Nếu có thêm đôi môi dày đỏ hồng thì đa tình vô tả, dầy quá độ thì biến thành hoang dâm.
Về đôi môi càng mỏng càng bạc tình. Môi mà thiếu sắc hồng nhuận, có mầu xanh hoặc trắng thì tính tình dễ biến đổi.
Có tướng trên đây thường khiến cho gia đình trở nên tiêu điều, nếu không thì bị khốn quẫn về tiền bạc.
Môi mỏng ưa uốn éo dẻo như kẹo cùng đi với cái miệng lớn thì ngồi lê, mách lẻo. Tướng môi, miệng không được quá khổ, to quá hay nhỏ quá đều là tướng xấu.
Miệng quá nhỏ thường là hà tiện vô lời. Cái đáng tiêu không tiêu, cái không đáng tiêu thì phung phí. Cai quản tiền bạc rất dở. Miệng quá lớn dễ thành phóng đãng.
Đàn bà dẩu mỏ tham cả tình lẫn tiền.
Môi loe ra không chụm lại được sẽ truỵ lạc phong trần.
Trán con gái đầy đặn, bằng bặn nở nang, chân tóc thanh, sáng, con gái dễ được kính yêu, có hy vọng một vận đào hoa rất đẹp. Nhưng trán quá khổ, vừa cao vừa rộng là tướng quản phụ. Trán ngắn và hẹp, tóc xâm lấn vào trán dễ bị con trai dùng lời đường mật lừa dối. Hai bên góc trán sáng sủa, lấy chồng sang, hiền. Trán con gái có tì vết hoặc nốt ruồi thường gặp nghiệt duyên.
Dung nhan thanh tú có đào hoa vận tốt .
Dung nhan đầy vẻ cô tịch, con gái duyên chậm, có lấy chồng rồi cũng rơi vào cảnh phòng khuê ngủ một mình ( con trai bị phiền não vì vợ con đau ốm ).
Da mặt mỏng mà mặt như bọt nước ( nghĩa là thịt chảy xệ ), đào hoa vận rất xấu.
Có thể đoán cả tính phụ nữ qua những thái độ kể sau đây:
- Mắt đong đưa, con gái dễ bị khêu gợi.
- Tay mân mê tóc, nữ tính trầm tư với tâm sự.
- Hay lấy lưỡi liếm răng hoặc môi, tính hiếu dâm.
- Thường nắm tay hoặc xoè tay - nhiều dục vọng.
- Ném phịch người xuống ghế - rất đa tình.
- Khi ngồi vai lệch bên phải - có nhiều chuyện xấu.
- Tai đỏ hồng hơi ướt - dễ xúc động và sắc tình.
- Răng lợi thâm là dâm loạn.
- Không cười mà lộ răng, lợi là tính hiếu sắc.
Gió đánh đò đưa
Ca dao có câu:
Gió đánh đò đưa, gió đập đò đưa.
Sao cô mình lơ lửng mà chưa lấy chồng?.
Gió đánh cành hồng, gió đập cành hồng
Hỏi cô mình đã muốn lấy chồng hay chưa?.
Đó là câu tán của anh chàng muốn lấy vợ và đó cũng là nút chuyển quan trọng của đời anh, anh sẽ có một gia đình hạnh phúc, hay anh sẽ tán gia bại sản, hay sẽ thành người mọc sếng trên đầu, hay anh sẽ chết sớm. Cái đó còn tuỳ vợ anh tướng cách thế nào ?
Bởi lẽ:
Đàn bà năm bảy đàn bà
Đem bỏ ngoài chợ, kiến tha nó về.
Một người vợ lý tưởng phải có những điều kiện gì ?
Có năm loại:
a, Gầy, nhỏ bé, xinh xinh, kiều diễm.
Người đàn bà này chỉ là đoá hoa cắm trong bình cho đẹp vì thể thái nhuyễn nhược, nhất nhất cái gì cũng phải dựa vào chồng, vì sức vóc yếu mềm nên không thể chịu được lao khổ. Không phải là người vợ lý tưởng. Đại biểu cho người đàn bà gầy kiều diễm tìm trong mỹ nhân Trung Quốc có Mai Phi. Nàng sinh ra ở Mai Hoa thôn, tên thực là Giang Thái Tần do Cao Lực Sĩ tuyển vào cung dâng lên Đường Minh Hoàng. Vì nàng yêu hoa mai nên vua mới đặt cho cái tên là Mai Phi. Mai Phi có sắc dáng mảnh dẻ, gió thổi bay và có hai mắt sáng đẹp như hai viên ngọc. Mai Phi đã chết đúng như một bông hoa mai héo hắt sau khi khôg được vua sủng ái như trước vì ông chuyển sang say mê Đường Quí Phi.
Cùng loài với Mai Phi còn có Đào Hoa Nữ trong tích truyện Thôi Hộ đề thơ nhân diện đào hoa tương ánh hồng, Thôi Oanh Oanh của Tây Sương ký. Họ phần nhiều sống với mộng ảo, thị ảo, thị chân đô thị mộng.
b, Tài, đẹp, giỏi.
Người đàn bà này chỉ thích hợp với các anh hùng hảo hán đã thành công, hoàn toàn không đóng được vai trò của người đàn bà bếp nước.
Xưa kia gọi là bậc cân quắc anh hùng. Hay thì thật hay nhưng nếu gã đàn ông nào số dở mà kết tóc với cân quắc anh hùng dễ chết lắm vì cân quắc anh hùng thường hàm chứa cái lý sát phu.
Điển hình cho loại này là Tôn phu nhân, vợ của Lưu Bị đời Tam Quốc, Hoa Mộc Lan, Tần Lương Ngọc .........
c, Đẹp nhưng hay gây sóng gió và sống xô bồ, nói nhanh, nói thẳng, chẳng kiêng nể ai, chưa thấy người đã nghe thấy tiếng, mắt long lanh hoạt động, xem chồng như đồ chơi.
Điển hình cho loại này là Bao Tự, vợ U Vương, Dương Quí Phi.
Đẹp thì có đẹp nhưng khó sống
d, Yêu quái và man rợ.
Cực diễm lệ nhưng cũng rất quái dị như giọt sương trong hoa, như gái Liễu Trai. Người đàn bà này không thể sống ngoan, hiền, êm đềm với chồng.
Điển hình cho loại này là Võ Tắc Thiên, Lan Nhi, Tây Thái Hởu, Trương Lệ Hoa.
Trương Lệ Hoa là người yêu của Trần Hậu Chủ. Tóc nàng dài ba thước, mượt ánh như một dòng suối. Nàng thường ngồi trên đùi Hậu Chủ giữa triều làm loạn hết cả cương kỷ. Trần Hậu Chủ đã vì nàng mà đặt ca khúc Ngọc Thụ Hậu đình hoa, bài hát làm cho Trần Hậu Chủ mất nước.
Về sau, Trương Lệ Hoa bị dân chúng nổi lên chém chết hệt như nàng Marie Antoinette, vợ Louis 16. Theo truyền thuyết của dân gian kể lại thì chết rồi, Trương Lệ Hoa hoá thành quỉ, đêm đêm xoã tóc đến với các chàng trai khoẻ, đẹp.
e, Hiền thục.
Người vợ đầy đặn là người vợ có diện thân đầy đặn, cao, trắng, đức độ thiện lương, tế ái ôn hoà, không làm mất lòng ai, lạc quan phấn đấu, thương chồng quí con. Mẫu người mà André Maurois định nghĩa: Petit animal fidèle silencieux sensuel.
Bây giờ ta bắt đầu đi vào chi tiết của tướng cách. Trên nguyên tắc của cuộc sống thì hoàn cảnh giầu sang của người đàn bà phần lớn định đoạt bởi ông chồng.
Nhưng trên tướng lý, sách có câu:
Sinh phú quý tướng giả bất giá bần tiện chi phu
Sinh bần tiện tướng giả bất nhập phú quý chi thất
Nghĩa là:
Sinh ra có tướng phú quý tất không lấy chồng bần tiện
Sinh ra có tướng bần tiện tất không được vào nhà phú quý
Như vậy, tướng mạo phụ nữ cũng quan trọng chẳng kém gì nam tử.
Chẳng những thế mà còn ảnh hưởng ghê gớm cho người chồng, nếu tướng sát phu, anh chồng phải chết, nếu tướng vượng phu, anh chồng sẽ ăn nên làm ra.
Phụ nữ mang rất nhiều tướng cách, đại loại có thể kể: quý trọng, phúc hậu, trinh khiết, khắc phu, bần khổ, hiền thục, hung hãn, cô độc, gian tư .........
Thế nào là tướng quý trọng?
Đàn bà con gái đầu ngay ngắn, trán tròn, rộng, tóc đen, óng mượt, chân mày thanh tú, mắt trong sáng và hiền hoà, quyền cốt bằng phẳng, không nhô cao, tai đầy đủ luân quách, nhân trung rõ rệt, răng trắng môi hồng, ngón tay dài, nhỏ mà thon. Lúc nói, lúc trông, lúc đứng ngồi, mọi cử chỉ đều cẩn trọng an tường, không bao giờ lao xao, tất tưởi, lả lơi, ngặt nghẽo. Thái độ cẩn trọng là quan hệ nhất, còn đẹp, xấu là vấn đề phụ, có thể là quý phu nhân. Cổ ngữ có câu: xũ xũ phu nhân tướng, câu này rất đúng.
Thế nào là tướng phúc hậu?
Sóng mắt dài, nhãn thần thanh tú không lộ thần, hai tai dán vào đầu đầy đặn, hai cánh mũi phân minh, nhân trung dài, địa các mở, gò má rộng, góc miệng triều thượng, bàn tay hồng nhuận, co tròn, lưng dầy, thân thể mập mạp. Giầu có nếu đang mập mà gầy là của cải mất đi.
Thế nào là tướng trinh khiết?
Hai mắt trắng, đen phân minh, không tà thị, nõn nà nhưng vẫn có uy, mũi ngay ngắn, pháp lệnh sâu dài, tai đầy đặn, cười không lả lơi, đi chậm, bước nhẹ, thân thể ngay ngắn, tính tình nhu thuận, tiếng nói thanh tế.
Thế nào là tướng khắc phu?
Khắc phu có rất nhiều tướng cách:
- Trán dài, trán vuông, hẹp, trán lệch, trán lõm, trán có xoáy, trán có ba vệt ngang chạy dài, trán có vệt dọc giữa thiên trung.
- Tóc cuốn rối, tóc khô, tóc vàng ệch, tóc cứng, tóc nặng, lúc thiếu niên mà tóc đã rụng.
- Mi thô, mi dựng, mi ngược, mi cốt gồ cao.
- Mắt đỏ, mắt vàng, mắt cực lớn, mắt tròn, mắt lồi, mắt bốn phía lòng trắng, mắt hình tam giác, dưới mắt da thịt khô, dưới mắt có vết như tấm lưới.
- Mũi bẹp dí, mũi gẫy khúc, sơn căn có nốt ruồi.
- Môi cong, răng lộ, miệng rúm.
- Quyền ngang, duyền cốt cao.
- Tai nhỏ quắp, đầu nhọn, mặt vênh, xương thô, bàn tay cực lớn, sắc mặt xanh lam, mặt gầy nổi gân, có lông trên mặt, mắt trễ như bùn, tiếng nói đàn ông, mày lớn trắng bóng.
Thế nào là tướng bần khổ.
Trán thật hẹp, tóc mọc lấn xuống trán, tai nhỏ có sắc đen. Lông mày lưa thưa chạy ngang chữ nhất. Mũi nhọn lệch, gẫy khúc. Miệng rúm. Trán nhọn, mũi sun. Miệng rộng như quai sọt. Tay ngắn, ngón tay thô, thịt thô, xương ngang. Môi quá dầy, hơi thở hôi hám. Tiếng nói nhỏ và đục, rè. Mặt như khóc. Lúc ngồi hay rung đùi. Trán óp, cằm nhọn.
Thế nào là tướng hung hãn ?
Mũi gẫy, nổi khúc, lỗ mũi to. Mắt có hung quang. Mày thô, mặt đen. Mắt nhỏ ti hí, lá dăm. Tiếng nói the thé, mình dài. Tính gian hoạt, có tiếng nói đục. Lưỡng quyền cao, nhô.
Thế nào là tướng cần kiệm ?
Tóc thật đen, mày thanh nhẹ nhàng. Thân nhãn ẩn tàng. Cử chỉ ẩn trọng, ít cạnh tranh.
Thế nào là tướng trợ phu ( giúp chồng )
Bàn tay lụa mịn, màng sắc hồng hồng. Mắt dài, mũi trái, mạt nhỏ nhắn. mi thanh nục tú. ở cổ và lòng bàn chân có nốt ruồi.
Thế nào là tướng không biết cai quản gia đình ?
Nói rụt rè như có gì mắc ở cổ. Mi đầu giao nhau. Sống mũi hẹp. Sơn căn gãy. Nói năng hàm hồ, ưa trang điểm, đánh bạc, ham chơi. Mắt như khiếp sợ.
Theo trên đây, vấn đề kể hơi phức tạp. Vậy nên thâu tóm lại cho dễ dàng. Cổ nhân đưa ra chín mỹ tướng và chín ác tướng của phụ nữ để việc kén vợ được thoải mái hơn.
Cửu mỹ tướng gồm có:
1. Đầu tròn, trán bằng phẳng
2. Xương hỏ nhắn, da thanh sạch.
3. Môi hồng, răng trắng.
4. Mày dài, mắt tú.
5. Ngón tay thon, lòng bàn tay dầy.
6. Tiếng nhỏ nhẹ, âm thanh như suối chảy.
7. Cười mà không lẳng lơ, không lộ sỉ ( hở răng, hở lợi ).
8. Bước đi ngay ngắn mà chậm, nằm ngồi nhàn nhã.
9. Thần khí thanh hoà, da dẻ thơm tho, mịn màng.
Được một trong chín tướng trên đây là có thể lấy làm vợ, khỏi lo.
Cửu ác tướng gồm có:
1. Nhất ác: Mặt xấu, quyền cao, hại chồng.
2. Nhị ác: Lộ hầu, chiêu hoạ.
3. Tam ác: Đầu xù, mặt bẩn, hà tiện.
4. Tứ ác: Đi như rắn trườn, chim nhẩy, bần tiện.
5. Ngũ ác: Mày giao nhau, áp mắt, cùng khốn.
6. Lục ác: Trên mũi có vết móc câu, hại chồng.
7. Thất ác: Mắt lộ bốn phía lòng trắng, hung hãn vụng dại.
8. Bát ác: Nói như đàn ông, khắc sát phu.
9. Cửu ác: Tóc xoắn như ốc, bần tiện, khắc tử.
Có một trong chín tướng trên đây thì chớ có lấy, hễ lấy là khốn ngay.
Luận về 72 tướng dâm của Viên Liễu Trang
Theo sách Liễu Trang ghi có 72 tiện tướng về dâm tính như sau:
- Da trắng như phấn ( bì bạch như phấn )
- Da trơn như dầu ( bì hoạt như du )
- Mặt xanh lướt ( huyết bất hoa sắc )
- Thịt nhũn như bông ( nhục nhuyễn như miên )
- Mặt nhiều ban điểm chân hương ( diện da ban điểm )
- Hai mắt lộ quang ( lưỡng nhan phù quang )
- Đuôi mắt đổ xuống ( nhãn dốc đê thuỳ )
- Chưa nói đã cười ( vi ngữ tiên tiếu )
- Mặt nhọn, trán thót ( diện đới, lưỡng tước )
- ấn đường và mũi hãm ( Diện toàn lưỡng hãm )
- Mặt từng ụ thịt ( diện nhục đôi phù ).
- Mắt ba hoặc bốn lòng ttrắng ( nhãn lộ bạch quang )
- Môi luôn mấp máy ( chủy thần tự động )
- Vẻ mặt đào hoa ( đào hoa chi diện )
- Góc miệng có vết ( khẩu đốc sinh văn )
- Đi như ngan ngỗng ( nga hành áp bộ )
- Cúi đầu liếc mắt ( trắc diện thuỳ đầu )
- Trông lén nhìn trộm ( tà thị du thị )
- Tự nói một mình ( tự ngôn tự ngữ )
- Ngực ưỡn đít cong ( hung cao, điến kiêu )
- Vai so cổ nhỏ ( yêu tế kiên hàm )
- Rốn lồi vị trí thấp ( tễ đột cân hạ )
- Đầu vú chỉ xuống đất ( nhũ đầu chỉ địa )
- Da nhăn nheo ( bì sô như sa )
- Mặt to mũi nhỏ ( diện đại tị tiểu )
- Trán nhọn chân rung ( ngách tiêm cước giao )
- Môi trắng mà mỏng ( thần bạch bất hậu )
- Môi xanh, môi xám ( thần thanh hư đĩnh )
- Bước đi thân mình lắc lư ( nhất độ tam giao )
- Nói một câu đứt ba đoạn ( nhất ngôn tam đoạn )
- Cười như ngựa hí ( tiếu như mã lê )
- Nói chuyện huyên thuyên ( ngữ ngôn phạp tạp )
- Đầu lớn ít tóc ( đầu đại vô phát )
- Thân gầy như liễu ( thân như phong liễu )
- Đùi hạc co cong ( hạc thoái, phong yêu )
- Âm hộ vô mao.
- Đầu lớn, đuôi chuột.(chướng đầu, thử vĩ )
- Rụt cổ, lè lưỡi ( súc đầu thân nhiệt )
- Hay xoa hàm, hay cắn móng tay ( thác tai giảo chỉ )
- Âm mao như cỏ.
- Mặt dài mắt tròn ( tường diện viên tinh )
- Răng gậm nhấm, tay vân vê tà áo ( dịch sỉ lông y )
- Ưỡn lưng thở dài ( thán khí thân yêu )
- Âm hộ thiên vè phía trước ( âm hộ hướng hạ )
- Đầu đi dằng trước ( đầu tiên quá bộ ).
- Đi hay ngoái cổ ( hồi đầu tầm cố )
- Ngồi đứng không yên ( toạ bất an ổn )
- Bắp đùi mọc lông ( thoái thượng sinh mao )
- Lưỡi nhọn môi cong ( thiệt tiêm thần hân )
- Cử chỉ si mê
- Đứng nghiêng, đứng ngả ( điếm lập thiên tà )
- Trán thật rộng, tóc mai thật rậm (ngách quảng mấn thâm )
- Răng chuột ( nhỏ lăn tăn ) ( thử sỉ )
- Răng nhọn răng quỷ ( quỷ nha )
- Tính tình hay thay đổi ( tính tình đa biến )
- Như mã hoán đề ( tướng này không rõ nghĩa )
- Thân dài, cổ ngắn ( thân ttrường hạng đoản )
- Mũi hếch lên trời ( tị ngưỡng triều thiên )
- Mắt lúc nhắm làm chân mày nhăn ( nhãn bế mi kiểm )
- Mình con rắn, ăn như chuột ( xà hình, thử sán )
- Cổ nhỏ mày nhăn ( hạng tế mi hàm )
- Ngón tay ngắn, co lệch ( chỉ đoản yêu thiên )
- Ăn uống không biết no chán ( ẩm thực vô tận )
- Chẳng có chuyện gì cũng sợ hãi ( vô sự tự kinh )
- Đầu lệch trán hẹp ( đầu thiên ngách trá )
- Lưng cong bụng thót ( bối hãm phúc tiều )
- Ngủ mộng rên la ( thuỵ mông thường đề )
Đọc bảy mươi hai tướng của Viên Liễu Trang kể trên đây, đàn bà nhẳng mấy ai tránh khỏi không có một trong những tướng đó. Nếu vậy thì đàn bà tiện dâm hết rồi còn gì.
Đương nhiên là thế. Đàn bà đa số tiện dâm. Tính theo bách phân phải 80%. Trong một trăm người đàn bà phải có hơn tám chục người lẳng, chỉ còn phân biệt nhiều hay ít nữa thôi.
Tiện dâm có nghĩa là một ý thức thấp đối với vấn đề giao tiếp nam, nữ và tuỳ tiện đối với việc làm tình.
Nói tóm lại là người đàn bà nhẹ dạ, dễ dãi. Cái nghĩa tiện dâm có theo thời đại mà biến đổi không? Chẳng hạn bây giờ đàn bà được bình đẳng, được giải phóng, không phải đàn bà thâm khuê kín cổng cao tường như xưa nữa thì cái việc chung đụng thì không thể nhìn bằng con mắt thời cổ.
Tướng học không thấy có sự biến đổi nào hết. Tiện dâm vẫn là tiện dâm, xưa hay nay là một. Chẳng phải bây giờ mới có phong trào phụ nữ giải phóng " women LIB ". với những " campus " làm tình tập thể mà những hành động tuỳ tiện bừa bãi trong tình yêu không còn bị coi là tiện dâm nữa. Có thể nó bớt chịu nghiêm khắc trên pháp luật hay trên đạo đức. Nhưng với tướng học nó vẫn thế bởi tướng học không đặt trên căn bản của đạo đức học, tướng học là một khoa riêng biệt hẳn.
Dù cho " campus " đầy dẫy chung quang mà một người không mang tính tiện dâm sẽ không bị lôi cuốn vào đó. Cũng như ngày xưa, thâm nghiêm là vậy mà người có mang tướng tiện dâm tất sẽ có những hành động tuỳ tiện về mặt tình ái như thường.
Đọc " 72 tướng tiện dâm"̉ của Viên Liễu Trang cần phải phân biệt tính chất nặng nhẹ của mỗi tướng. Tỉ dụ, hai tướng rụt cổ, lè lưỡi và mặt dài, mắt tròn khác hẳn nhau. Tướng mặt dài, mắt tròn nặng gấp mười lần hơn tướng rụt cổ, lè lưỡi. Nguyên tắc chung để phân biệt nặng nhẹ là phàm tướng hiện lên qua thái độ, cử chỉ bao giờ cũng nhẹ hơn tướng hiện lên qua bộ vị.
Người ta thường lầm tiện dâm với đa tình. Có những người đàn bà đa tình mà không hề có những hành động tiện dâm ( Fornication ).
Khi Tô Đông Pha bị đầy đi Huệ Châu, ông ở cạnh nhà Ôn Đồ Giám. Đồ Giám có người con gái rất xinh đẹp, học giỏi. Bố mẹ nhiều lần gả chồng nhưng chẳng ai vừa ý Ôn Nữ. Tô Đông Pha tới đây, Ôn Nữ đã từng mến mộ tài danh của họ Tô từ lâu, cho nên tối tối nàng thường chạy sang vườn nấp bên song cửa nghe Tô Đông Pha ngâm thơ. Ôn Đồ Giám biết chuyện con gái. Nàng khảng khái thú nhận và ngỏ ý chịu làm thiếp của họ Tô. Ôn Đô Giám thấy con gái cương quyết như vậy chẳng biết làm sao đành chấp thuận và hứa sẽ tìm người mai mối.
Nhưng đột nhiên triều đình gọi Tô Đông Pha về. Ông lật đật đi nên ý định của Ôn Đô Giám không thành. Phần Ôn Nữ thì uất ức thành bệnh, chẳng bao lâu thì chết.
Về sau có lần Tô Đông Pha trở lại Huệ Châu, nghe được chuyện Ôn Nữ. Ông làm một bài thơ tế để khóc người thiếu nữ đa tình. Bài tế ấy ở vùng Huệ Châu, con trai, con gái đều thuộc.
Đời Nam Tồng có người con gái tên Chu Thục Chân, nàng là tác giả tập thi từ lừng danh mà danh sĩ đời sau đặt cho cái tên là Đoạn Trường tập.
Thục Chân, người Hải Ninh, Tỉnh Chiết Giang. Cha mẹ nàng đã gả bán nàng cho một người chồng ngu si. Vì vậy nàng đau khổ chỉ còn sống với ảo tưởng.
Tất cả những bài thơ trong Đoạn Trường Tập đều là tiếng lòng ai oán của Chu Thục Chân. Người ta thấy những câu:
Lê hoa tế vũ hoàng hôn hậu
Bất thị sầu nhân đã đoạn trường
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Khứ niên cửu nhật sầu hà hạn
Trùng thượng tâm lai ích đoạn trường
Trong đoạn Trường Tân Thanh với những cảnh: gặp Kim Trọng
Tình trong như đã, nặt ngoài còn e
Chập chờn cơn tỉnh cơn mê
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Bóng tà như dục cơn buồn
Khách đà lên ngựa, người còn ngó theo
Thái độ trước mả Đạm Tiên
Lại càng mê mẩn tâm thần
Lại càng đứng lại tần ngần chẳng ra
Lại càng ủ dột nét hoa
Sầu tuôn dứt nối châu sa vắn dài.
Thần sắc lúc mộng thấy Đạm Tiên
Giọng Kiều rền rĩ trước loan
Nhà huyên chợt tỉnh hỏi duyên cớ gì
Cớ sao trằn trọc đêm khuya
Mầu hoa lê hãy đầm đìa giọt sương.
Kiều qua nhà Kim Trọng
Cánh hoa khẽ động tiếng vàng
Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Xắn tay mở khoá động đào
Rẽ mây trông tỏ lối vào thiên thai
So những mối tình của Ôn Nữ, của Chu Thục Chân và của Vương Thuý Kiều, người ta có thể thấy ngay Ôn Nữ và Chu Thục Chân thuộc loại đa tình. Phần Thuý Kiều cũng đa tình nhưng còn pha cả phần tiện dâm. Cái tiện dâm hiện ra lúc mộng mị rên la và tần ngần khóc lóc trước mả Đạm Tiên.
Tướng đa tình thế nào ?
Tiện dâm thì tướng đục, đa tình thì tướng trong. Đôi mắt người đa tình thanh tú nhưng mắt long lanh ướt lệ. Sắc diện người đa tình trong sáng nhưng vẻ buồn hiu quạnh. Điểm căn bản để phân biệt tiện dâm và đa tình là:
Tiện dâm thường ngu độn, dễ bị dụ dỗ, hoặc dữ dằn thô lỗ, để buông thả bừa bãi, ngả về xác thịt nhiều hơn.
Đa tình thường đi đôi với đa tài, ngả về tinh thần nhiều hơn.
Đàn bà yêu quái ( vampire ) không phải là người tham dâm cuồng dâm mà là người đàn bà dùng tình dục như một thủ đoạn để chi phối nam giới. Mục đích của người đàn bà yêu quái không ở nơi thoả mãn tình dục, mà mục đích ở nơi chi phối đàn ông.
Alexandre Dumas tả tâm lý của yêu phụ qua lời nàng Gautier tức Trà Hoa Nữ:
"Tất cả đàn ông đều cùng một ruộc. Khi chúng được thoả mãn rồi là bắt đầu chán ghét, nếu người đàn bà yêu chúng, chúng dễ dàng ruồng bỏ và áp chế. Riêng tôi, tôi không bao giờ để cho đàn ông thoả mãn và bắt chúng chịu ba điều kiện của tôi: tin tôi hoàn toàn, nghe tôi tuyệt đối và quì mọp dưới chân tôi". Ba điều trên đây là đòi hỏi căn bản của bất cứ yêu phụ nào. Nàng đem dung mạo diễm lệ và xác thịt khêu gợi cùng miệng lưỡi gian ngoan để thoả mãn tâm lý bạo chúa trong người nàng. Đàn ông trước đàn bà yêu quái chỉ là một thứ đồ chơi. Tình yêu được người đàn bà đó biến thành thứ vũ khí đấu tranh. ái tình hoàn toàn bị tiêu diệt, chỉ có chi phối bởi tham vọng là chính.
Tướng cách yêu phụ phải kết hợp giữa tâm lý với hình thái mới đoán biết được.
Yêu phụ thường có ba đặc điểm:
- Đẹp lạ lùng ma quái
- Lòng tự tin rất cao
- Đa năng và thông minh hơn người
Các nhà tâm lý phân yêu phụ ra làm hai loại:
a, Yêu phụ trong máu huyết, bản chất tế nhỏ đến lớn.
b, Yêu phụ do biến thái của một duyên cớ uất ức đau thương.
Bao Tự, Đát Kỷ đời Thương, Chu là điển hình cho loại đàn bà yêu phụ.
Cléopatre và Mata Hari cũng thuộc loại này.
Người đàn bà cuồng dâm là người đàn bà đòi hỏi tình dục vượt xa mức bình thường. ( Oversexd women )
Như Messaline, vợ của vua Claudius đêm đêm nàng cải trang thành thường dân để tìm bắt các chàng trai khoẻ mạnh chốn dân giã để làm tình với tư thế một con điếm.
Như Catherine de Russic, nữ hoàng Nga, mỗi ngày một sỹ quan trẻ tuổi phải thường trực để giải quyết sinh lý cho bà.
Như Võ Tắc Thiên làm tình ngay giữa triều đình.
Như George Sand, nữ văn sĩ Pháp, thay nhân tình như cơm bữa.
Như Phan Kim Liên, vợ Võ Đại Lang, anh Võ Tòng, ngày nào cũng đòi hỏi thoả mãn tình dục.
Khoa tướng học không nói tướng cuồng dâm như thế nào. Chỉ bảo rằng đó là một bệnh tâm lý hoặc một bệnh trong cơ thể. Có thể nó là một biến thái tế một yêu phụ. Vì cuồng dâm thường thấy ở những người đàn bà đầu óc bình thường.
Luận về đa truân
Đời người, bất luận nam hay nữ, có muôn vạn sắc thái khác nhau.
Tướng mệnh học không thể chỉ rõ tếng chi tiết của đời mỗi người. Cho nên mới tóm lược phân ra quí tiện, bần phú, dâm, trinh, bình an, đa truân, thọ, yểu, thiện chung và bất thiện chung. Rồi lại căn cứ vào lưu niên vận hạn để chỉ lẽ cùng thông cho mỗi thời kỳ.
Có người thân thể thấp kém nhưng tinh thần, tư cách thanh cao, xuất thân ca kỹ, làm tì thiếp nhưng thực sự là một hiền phụ.
Nàng Quan Miến Miến xuất thân ca kỹ, cánh tay đã từng có cả trăm người gối, đôi má có cả ngàn người hôn, nhưng sau Miến Miến về làm thiếp hầu cho quan thượng thư Trương ẩm. ít lâu thì thượng thư Trương ẩm chết, nàng ở Yên Tử Lâu thủ tiết thờ chồng mười năm không lấy ai. Nhà thơ Bạch Cư Dị mới làm một bài thơ chọc ghẹo. Nhận được thơ, nàng Miến Miến khóc nói rằng: Chẳng phải tôi không dám chết, tôi sợ nếu chết theo chồng ngay, người đời sẽ cười chồng tôi ham sắc dục, chết rồi còn đem thiếp hầu đi theo. Bây giờ sau 10 năm cũng là lúc tôi có thể làm việc ấy. Rồi Quan Miến Miến tuyệt thực chết tại Yên Tử Lâu.
Tin lan ra, Bạch Cư Dị rất hối hận nói:
- Tôi không giết Miến Miến nhưng chính vì tôi mà nàng chết.
Xúc động về cái chết ấy, thi sĩ Bạch Cư Dị mới làm ba bài thơ để khóc Quan Miến Miến, trong có bốn câu:
Mãn song minh nguyệt mãn liên sương
Bị lãnh đăng tàn phất ngọ sàng
Yến tử lâu trung sương nguyệt dạ
Thu lai chỉ vì nhất nhân trường
Nghĩa là:
Đầy cửa ánh trăng, đầy riềm sương ướt
Chăn gối lạnh, ánh đèn tàn bên giường
Trong lầu Yên Tử đêm trăng sương
Thu về dài dằng dẵng trong lòng một người
Có những người vốn là công chúa, vương tôn, suốt đời khổ hận như Nam Dương công chúa. Nàng là con vua Tề Dạng Đế Dương Quảng bị cha gả cho con trai người cận thần Vu Văn Thuật là Vu Văn Sĩ Cập. Nhà họ Vu gốc tích người rợ Hồ, toàn tay võ biền, thô lỗ, trong khi công chúa Nam Dương lại là người đàn bà nhân tinh thi văn. Vu Văn Sĩ tuy thuần lương hơn hai em là Hoá Cập và Trí Cập nhưng phần ngu độn thì chẳng kém.
Khi Vu Văn Thuật chết, Tuỳ Danh Đế trao quyền lớn cho hai anh em Hoá Cập và Trí Cập. Hai anh em liền trơ trẽn dở chò khốn nạn với em dâu. Vì vậy anh em trở thành thù nghịch.
Thiên hạ đại loạn. Anh em họ Vu, Hoá Cập, Trí Cập tạo phản đánh vào cung giết vua Tuỳ Danh Đế, lập cháu Dương Quảng lên làm vua rồi tự phong cho mình những chức lớn nhất, đồng thời sai người đi bắt toàn gia nam Dương công chúa giết hết. May nhờ kẻ đi làm phận sự không nỡ nên thoát chết.
Lúc anh em nhà họ Vu thua trận thì Nam Dương công chúa và con cái đều bị quân nhà Đường bắt. Theo phép tất cả giòng giống họ Vu đều bị xử chém, riêng Nam Dương công chúa được tha. Cha chết và các con cũng bị chết hết, Nam Dương công chúa xin vào một ngôi chùa hẻo lánh cắt tóc đi tu.
Có những cảnh éo le xảy đến như trường hợp nàng Trinh Nương xóm Chu Thôn.
Trinh Nương lớn lên trong loạn lạc cuối đời nhà Minh. Khắp nơi binh hỏa và cướp bóc. Nàng là con một vị tú tài ở Chu Thôn, đã đính hôn nhưng chưa về nhà chồng.
Hốt nhiên đạo tặc kéo về Chu Thôn, cầm đầu bởi tên Nha Lữ Tài. Về làng, giặc giết dân như phát cỏ, ai không bị giết thì bị chúng bắt giữ. Trinh Nương có sắc đẹp nên bị Nha Lữ Tài cưỡng hiếp. Nàng bèn lợi dụng xin tướng giặc tha cho những người bị chúng bắt. Nhữ Tài bằng lòng.
Khi nàng thoát khỏi tay giặc về với gia đình thì cha ngàng lấy cớ là dòng dõi thư hương mà nay nàng bị giặc cướp làm nhục nên bắt nàng phải tự sát. Trinh Nương không nghe. Cha nàng ra lệnh cho người nhà nàng bắt nàng treo cổ. Trinh Nương trốn được. Khi bị bắt lại, sắp sửa đem ra hành hình thì người chồng chưa cưới họ Cao chạy tới ngăn, nhân danh là chồng nàng cấm không cho ai phạm hình và trước mắt mọi người, chàng họ Cao thề không huỷ bỏ hôn phối dù nàng bị bọn cướp làm nhục.
Hai họ đều cho đó là việc bất sỉ nên đồng tình đuổi hai người khỏi Chu Thôn.
Họ tế biệt người thân cùng nhau chạy xuống miền Nam. Không biết làm gì để sống, họ phảI đi hành khất.
Người chồng không chịu được cơ khổ nên luôn luôn có những lời ai oán ca thán qui lỗi cho Trinh Nương.
Trinh Nương hết sức nhẫn nại không một lời oán hận. Nhiều lúc cơm thiếu, nàng phải nhịn dành phần cho chồng.
Một ngày, Trinh Nương bắt được một cái trống ai bỏ rơi bên đường, nàng đem về nhà gõ hát cho chồng nghe tiêu sầu giải muộn. Rồi nàng đem bài hát ra phố dạo hát kiếm tiền.
Tiếng nàng phong phú, ai cũng thích nghe, tiền kiếm mỗi ngày một nhiều hơn. Thừa thãi, Trinh Nương thường đem chia cho người đồng cảnh ngộ. Lâu dần Trinh Nương thành lãnh tụ của đám nghèo khốn.
Thấy vợ ngày phải đem sắc đẹp ra kiếm sống, Cao thấy tủi nhục bỏ đi. Trinh hốt hoảng theo tìm. Đúng lúc bọn giặc La Nhữ Tài đổ xuống miền Nam bắt được Cao Thị. Trinh Nương dò hỏi đến nơi thì chồng không còn nữa vì chàng không chịu nổi sự hành hạ của giặc.
La Nhữ Tài gặp lại Trinh Nương. Nhớ tình cũ, hắn mời nàng đến cùng hưởng phú quí. Trinh Nương nuốt nhục để lập kế báo thù.
Đêm kia, La Nhữ Tài ngủ say, nàng rút dao nhọn đâm mạnh vào mặt hắn, dao xuyên thủng con mắt. La Nhữ Tài đau đớn rút gươm đâm loạn vào người nàng.
Trinh Nương chết cùng lúc với La Nhữ Tài. Đời sau chép lại chuyện này gọi là tích: Phượng Dương hoa cổ.
Qua những chuyện Quan Miến Miến, Nam Dương công chúa, Trịnh Nương ta thấy thế nào là đa truân. Đa truân có hằng hà sa số hình thái khác nhau.
Người xem tướng phải đầy kinh nghiệm, tinh thông tướng học thì mới đoán ra được những điểm chí huyền, chí diệu của sự sắp xếp trong cuộc sống.
Tướng pháp cổ đối với tướng phụ nữ
Theo sự phân tích của cổ tướng học thì nhất âm, nhất dương, cái đạo ấy không thể loạn – nhất cương, nhất nhu, cái lý ấy không thể trái.
Đàn ông là thuần dương chi hình nên thể cương.
Đàn bà là thuần âmchi hình nên thể nhu.
Chỗ dụng của thể cương là hùng mạnh. Chỗ dụng của thể nhu là nhuyễn nhược. Nay nếu nữ hình lại cương mà dũng, tính tình bạo mà cấp gọi là phản hình, không được cái đẹp của lý và đạo. Nếu nữ tính nhu hoà, tướng mạo mềm mại, tú lệ mới thật là tướng tốt, có thể phú quí. Nếu tướng mạo cường bạo, nhiều chất đực là tướng xấu bần tiện hung tai.
Cổ tướng pháp nghiên cứu tướng phụ nhân gồm có:
- Đạt ma phụ nhân tướng.
- Ma Y thu đàm nguyệt.
- Quỉ cốc tướng phu nhân ca.
- Nữ ngọc quản quyết.
- Linh đài bí kíp.
- Trần Hi Di động nguyên kinh.
Xin lần lượt ghi lại những phần quan trọng tinh hoa của nững sách ghi trên. Nói về tướng vương phi và phu nhân và tướng vượng phu ích tử:
Phàm đàn bà xương cốt tiêu tuấn, thần khí uy nghiêm, ẩn trọng mà ít mị, ngũ nhạc khoan đại, hành động khoan thai, nhanh nhẹn như lưu thuỷ, thanh âm êm và trong sáng như ngọc rơi là tướng vương phi.
Phàm đàn bà ngũ nhạc đoan hậu, cốt khí lỗi lạc, thần sắc ôn hoà là tướng phu nhân.
Cốt khí hiện lên ở đâu ?
Toàn bộ cốt khí sang quí hiện lên ở trán và mũi. Người nào long hổ dốc có ẩn cốt chạy lên đến tận chân tóc, người nào mà ấn đường hoặc thiên trung mà cốt khí hiện lên một miếng vuông mà bằng phẳng, sáng sủa gọi là ngọc hoàn cốt. Người nào sương sống mũi chạy dài nối với ấn đường, khí sắc rực rỡ gọi là phục tề quán đính. Tất cả đều là những bà cực cao sang.
Điều cần chú ý là cốt khí đẹp vẫn cần phải được phối hợp cùng với các bộ vị khác, nếu có bộ vị hình khắc thì ngôi bậc phu nhân khó lòng trường cửu.
Long nhan phượng cảnh tát phối quân vương. Đàn bà diện mạo,thân hình có xương cốt tiên tuấn như rồng nổi bật lên quan thái tú di và cổ như con thái phượng chính là tướng hoàng hậu vậy.
ở xã hội hiện đại, vợ của một nguyên thủ quốc gia thường không có tướng đẹp như hoàng hậu xưa, bởi lẽ ngôi nguyên thủ không mang tính chất bệ rồng chín tầng như thời cổ, thêm nữa chính quyền ngày nay đã chia sẻ làm nhiều trung tâm. Có thể vợ của một nhà đại tư bản nắm vận mệnh quốc gia mang nhiều tướng đẹp hơn vợ của một vị nguyên thủ.
Có những câu thơ phú về tướng vượng phu rằng:
Hữu nữ sinh lai diệt tế viên
Ngũ quan lục phủ tế tu khan
Nhãn trường phát hoắc liên hoa kiểm
Định giá triều trung phú quí hiền.
Nghĩa là:
Có người con gái sinh ra mặt tròn xinh xắn
Ngũ quan lục phủ thăng bằng dễ ưa
Mắt dài tóc đen đôi mắt ửng hồng
Sẽ lấy chồng hiền và quí
( trích Ngọc Quản Quyết )
Phụ nữ thân hình thượng hạ bình
Mục như biểm tất tất thông minh
Thân tài chu chính tam tai mẫn
Phú quí phong nhiêu túc nhất sinh.
Nghĩa là:
Người đàn bà thân hình trên dưới đều đặn
Mắt đen như sơn thì thông minh
Mũi, lưỡng quyền tương đối vừa vặn
Suốt đời phú quí phong lưu
Thần khí phân minh hắc bạch phân
Bất sân nhi nộ cốt hoàn thành
Thanh tự kim huỳnh, ưỡng thanh vận
Tử đạt phu vinh sự quí nhân
Nghĩa là:
Thần khí sáng suốt, mắt đen trắng phân minh
Lúc giận mà không dữ, không tục
Tiếng nói trong trẻo như chuông vàng
Chồng sang con hiển đạt, suốt đời quyền quí
Phụ nữ uy nghiêm, tiếng nói như chim yến hót, lời lẽ ôn tồn, tai trắng và dầy, trán rộng tròn trịa, tóc đen như lông quạ, mục thần trong sáng, nhìn chính trực, nhân trung rõ ràng, quyền cốt ẩn ẩn bằng phẳng và rộng rãi, trán phẳng đoan chính, môi hồng răng trắng, Xương thịt tương xứng, ngón tay dài, mũi thon, thẳng là những tướng quí.
Phụ nữ tai mọng tròn, bàn tay mịn đỏ hang, trán thẳng, mắt đẹp, tính tình khoan hậu, hàm đầy, nhân trung dài, góc trán, chân tóc không khuyết hãm, dưới mắt đầy đặn là những tướng giầu.
Mặt vuông vắn chữ điền, lưng rộng, bụng tròn, mặt đen thân trắng, môi hồng, ngón tay búp măng, lông mày trăng treo, răng đều như hạt lựu, người thơm tho vừa giầu, vừa sang.
Nói về tướng đa phu:
Ra đường đánh giá người trinh thục
Trong dạ sao mà những gió trăng
Mới biết hồng nhan là thế thế
Trăm năm, trăm tuổi lại trăm thằng
Những câu thơ trong bài " Cười người lang chạ " của Trần Tế Xương có một điểm sai ở chỗ: đã " trăm năm trăm thằng " thì không có cách gì mà đánh giá người trinh thục dù chỉ là che đậy bề ngoài, vì gian tư đa phu, khắc sát phu đều có tướng cách hiển hiện thật rõ ràng.
Về đa phu, ngạn ngữ Tầu có câu: " Phụ nhất nhi dĩ, nhân tận khả phu " nghĩa là: chỉ có một bố đẻ ra thôi nhưng ai cũng có thể làm chồng cô ấy được.
Tướng đa phu thường đi cặp hai loại tướng
a, Tiện dâm
b, Hung dữ
Nữ lấy cung phu làm cung chủ yếu cho cuộc đời. Phu cung đã không ra gì thì cuộc đời cũng chẳng ra gì.
Người đàn bà hung dữ và đa dâm thế nào cũng đa phu.
Sau đây là một câu chuyện vui về tướng và số đa phu.
- Tại Bắc Bình có thầy số nổi danh, ngoài nhà treo bảng Phúc Cát Tinh, hai bên cổng mỗi cột đề bốn chữ:
Thiết bản luận mệnh
Di thư vĩ bằng
Hôm ấy, một người đàn bà đến xem, nói ngày sinh, tháng sinh đâu đấy rồi hỏi:
- Số năm nay có thể lấy chồng được không ?
Thầy Phúc Cát Tinh bấm đốt ngón tay lẩm bẩm tính, xong rồi cười nói rằng:
- Hữu hỉ, hữu hỉ nhất định xuất giá. Số này của cô hay cô xem cho ai ?
- Tôi xem giùm người bạn
- Nếu vậy thì dễ cho tôi lắm. Số này lạ lắm, ứng với câu vị xuất khuê môn tiên hữu tử. Trăm năm đã chắc có duyên trời. Chưa cưới nhưng mà hãy để chơi, hà . . . hà . . .
- Thật thế sao ? Số cũng đoán luôn cả điều ấy nữa ư ?
- Chẳng phải chỉ có thế thôi đâu thưa cô. Bạn của cô, cứ như tôi đoán thì là con người cực hung dữ, chanh chua, hai năm lấy hai chồng, chẳng có chồng nào ở qua năm mới.
- Đây là số người chị họ tôi. Xin thầy xem tường tận cho. Năm nay vận khí thế nào ?
- Xin cô đừng giận, số ra sao tôi đoán vậy, không có ý chê trách bới móc ai. Chị họ của cô cách đây ba tháng đã lấy một người, nhưng vì bà ấy mệnh cách thuộc loại như lão hổ ( hổ cái ) cho nên đàn ông sợ, bà ấy hiện tại đang tính lấy chồng nữa. Lần này chắc cũng vậy, không qua nổi một năm đâu.
Thầy Phúc Cát Tinh chưa nói rứt lời, bỗng nghe cái rầm! chén đĩa trên bàn kêu loảng soảng. Cô ta cầm chén nước trên bàn hắt vào mặt thầy mà xỉa xói:
- Thằng mù kia, đoán mệnh thì đoán mệnh, can cớ gì mà mày xỏ xiên hổ cái với thư lão hổ. Tao là hổ cái hồi nào, tao đã gặm mất đầu lâu của mày chưa ?
Tướng với số thật hợp.
Sách " Bí truyền tướng pháp " viết:
- Nhất kiến khả uý cương cường nhi đa phu.
Vừa trông thấy đã gây cho người đàn ông cảm tưởng ơn ớn thì đa phu.
- Nhất kiến khả khùng hình khắc nhi tâm ác
Vừa trông thấy đã khiến cho người đàn ông ghê sợ thì khắc phu và tâm ác.
Nói về tướng khắc sát phu.
Khắc phu là làm cho chồng lụn bại, chia lìa. Sát phu là làm cho chồng chết.
Sách " Tử bất ngữ " của Viên Mai chép chuyện " Người đàn bà chín chồng như sau ":
- Vùng Cúc Dung có chín ngôi mộ nằm chung một chố. Dân chúng gọi là mộ cửu phu. Theo truyền thuyết thì vùng này trước đây có người đàn bà rất đẹp, chồng chết, có một con, gia tư khá. Lấy chồng nữa lại được một con, chồng lại chết. Đem chồng sau chôn cạnh chồng trước và cứ thế tiếp tục đến chín người đẻ chín đứa con.
Đến khi người đàn bà ấy chết, nhà đem chôn với chín người kia. Cứ mỗi khi mặt trời xế bóng là nơi đó âm phong nổi lên, đêm về nghe tiếng cãi nhau om xòm để tranh dành mỹ nhân. Dân vùng này chẳng ai dám đi qua. Họ bèn bàn nhau làm đơn lên quan huyện lệnh tên Triệu Thiên Tước. Viên huyện lệnh truyền cho đem đội lính lệ vác hèo xuống đánh vào mộ cửu phu mỗi mộ hai mươi hèo. Từ đấy về sau mới yên.
Đánh hèo vào mộ cho ma quỉ yên là truyện hoang đường, nhưng mộ cửu phu thì có thật đến nay vẫn còn.
Chuyện sát phu lại càng là truyện rất thường sảy ra. Nhất là vào thời tao loạn, tướng sát phu đầy rẫy.
Tướng sát phu như đã nói ở trên rất nhiều nhưng mạnh nhất là ở tiếng nói, thứ đến mũi và lưỡng quyền, rồi sau mới đến các bộ vị hoặc các ám tướng khác.
Tướng gia Tề Đông Dã kể rằng: Thủa thiếu niên, ông theo người cậu ruột đi yến hội tại một nhà ở đường Tây Trực thuộc phủ Bắc Kinh. Người cậu vốn là quan chức cao cấp chính phủ đương thời lại giao du rất rộng cùng am tường tướng thuật. Biết tướng thuật cũng là một tài năng cần thiết để giao thiệp trong chính giới thời bấy giờ. Bữa yến hôm ấy, vấn đề tướng số được đưa ra bàn cãi sôi nổi. Đề tài đưa ra là tướng về âm thanh. Nhiều người không tin là tiếng nói có thể ảnh hưởng đến chồng con như cậu tôi lập luận.